Khi phát hiện có tình hình, vụ việc phức tạp về ANTT xảy ra trên địa bàn, hoặc phát hiện đối tượng đang có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội; đối tượng truy nã đang lẩn trốn, xin vui lòng thông tin đến các số điện thoại đường dây nóng của Công an tỉnh (trực 24/24 giờ hàng ngày):
  1. Cảnh sát phản ứng nhanh: 113.
  2. Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ: 114.
  3. Trực ban Công an tỉnh: 0212.3759.678 hoặc 069.2680.189.

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN VỀ BẢO ĐẢM ANTT Ở CƠ SỞ

MỤC LỤC 

Chuyên đề 1: Một số kết quả công tác đảm bảo ANTT nổi bật năm 2015

CHUYÊN ĐỀ 1

 MỘT SỐ KẾT QUẢ CÔNG TÁC ĐẢM BẢO ANTT NỔI BẬT NĂM 2015

  1. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh được giữ vững, ổn định, không xảy ra đột xuất, bất ngờ. Lực lượng Công an toàn tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân bảo vệ an toàn Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XIV, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bảo đảm an toàn tuyệt đối hoạt động của lãnh đạo Đảng, nhà nước, các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại tỉnh; các sự kiện chính trị – văn hóa lớn, như: Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch khu du lịch quốc gia Mộc Châu”; Lễ Kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng tám, Quốc khánh 2/9; Lễ kỷ niệm 120 năm thành lập tỉnh và các mục tiêu chính trị, kinh tế trọng điểm quốc gia trên địa bàn tỉnh.
  2. Tổ chức tấn công quyết liệt đối với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Năm 2015, toàn tỉnh xảy ra 2.472 vụ, việc liên quan đến TTATXH, đã điều tra, giải quyết 2.379 vụ, việc, đạt 96,2%; xử lý 3.560 đối tượng vi phạm. Công tác điều tra, truy tố, xét xử chấp hành đúng các quy định của pháp luật, không xẩy ra oan sai. Tỷ lệ điều tra khám phá các vụ án xâm phạm trật tự xã hội đạt 89,53% (riêng án đặc biệt nghiêm trọng đạt 100%); một số tội phạm giảm so với năm 2014, như: trộm cắp tài sản, mua bán người, cố ý gây thương tích…. Toàn tỉnh không có hoạt động của tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động băng nhóm theo kiểu “xã hội đen”. Đã phát hiện, bắt giữ 689 vụ, 1.189 đối tượng phạm tội về ma túy (giảm 158 vụ, 34 đối tượng so với năm 2014), thu giữ 120,1 kg hêrôin, 15,3 kg thuốc phiện, hơn 204.000 viên ma túy tổng hợp, 1,63 kg ma túy dạng đá.
  3. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện hiệu quả Phương án 279 về đấu tranh với tội phạm ma túy để giải quyết địa bàn trọng điểm về ma túy tại xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ và vùng phụ cận; thu được nhiều kết quả tích cực trên lĩnh vực đấu tranh với tội phạm ma túy, truy bắt đối tượng truy nã, xây dựng củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. Đặc biệt, tổ chức thực hiện các giai đoạn tiếp theo của Chuyên án 279-LL đấu tranh với các nhóm có vũ trang vận chuyển trái phép ma túy qua biên giới vào địa bàn xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ và vùng phụ cận, từng bước ổn định ANTT tại địa bàn.
  4. Tổ chức đồng bộ, quyết liệt công tác vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các địa bàn phức tạp về hoạt động tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép. Năm 2015, đã thu hồi được: 02 quả bom bi; 01 đầu đạn; 15 lựu đạn; 02 khẩu K44; 01 khẩu K50; 01 khẩu Cacbin; 03 khẩu Samperlech; 02 khẩu súng hơi; 01 súng săn; 3.088 súng kíp; 921 súng cồn; 04 súng thể thao; 238 nòng súng; 25 viên đạn; 25 bộ xung kích điện; 121 hạt nổ; 63 kg bột đá; 2,9 kg thuốc nổ; 86 kg đạn chì; 12 kg diêm sinh; 03 thanh kiếm; 01 lưỡi lê.
  5. Tăng cường công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, đặc biệt chú trọng thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, làm giảm tai nạn giao thông trên địa bàn, tổ chức các đợt cao điểm tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông, vi phạm về chở hàng quá tải trọng cho phép, phát hiện, xử lý 43.346 trường hợp = 26,9 tỷ đồng.
  6. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động chuyển hoá địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT thành địa bàn an toàn về ANTT hoặc ít phức tạp hơn. Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết các địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự; phê duyệt triển khai thực hiện Đề án chuyển hoá địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự, giai đoạn 2015 – 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết quy định nội dung, mức chi kinh phí thực hiện công tác chuyển hóa địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; Nghị quyết thông qua Đề án Nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ ANTT của lực lượng Công an xã, giai đoạn 2015-2020; UBND tỉnh phê duyệt Đề án và hướng dẫn tổ chức thực hiện nhằm tăng cường nguồn lực xây dựng, củng cố lực lượng Công an xã; ban hành Kế hoạch thực hiện công tác chuyển hoá địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT.
  7. Tăng cường công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở địa bàn cơ sở, chú trọng phát động phong trào Toàn dân tham gia xây dựng xã, phường, thị trấn, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, nhà trường đạt tiêu chuẩn an toàn về ANTT. Chỉ đạo xây dựng, duy trì hoạt động của 17.700 “Nhóm liên gia tự quản” về ANTT; 3.170 tổ An ninh nhân dân; 07 Ban bảo vệ dân phố, 102 tổ bảo vệ dân phố; 3.168 tổ hòa giải… phát huy tốt hiệu quả trong công tác phòng ngừa, giải quyết kịp thời những vụ việc liên quan đến ANTT ngay từ cơ sở. Qua đó, đã xây dựng được 142/188 xã = 75,5% đạt tiêu chí số 19 về ANTT (tăng 15 xã). Phân loại phong trào: (1) khối xã, phường, thị trấn: loại khá đạt 79%; loại trung bình đạt 21%; (2) khối cơ quan, doanh nghiệp, trường học: loại khá đạt 90%, loại trung bình đạt 10%.
  8. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế với các tỉnh Bắc Lào trong công tác đảm bảo an ninh biên giới, phòng chống tội phạm, ma túy, qua đó từng bước đảm bảo giữ vững và ổn định an ninh trật tự khu vực biên giới; ngăn chặn, hạn chế hoạt động của tội phạm hình sự, ma tuý khu vực biên giới và qua biên giới.

Chi tiết

Chuyên đề 2: Ðồng bào Mông ở Sơn La không tin và nghe theo luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu

CHUYÊN ĐỀ 2

ĐỒNG BÀO MÔNG Ở SƠN LA

KHÔNG TIN VÀ NGHE THEO LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN CỦA KẺ XẤU

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam chống ách đô hộ của thực dân, đế quốc, chống đói nghèo lạc hậu để đất nước ta được thống nhất, độc lập, tự do và ngày càng phát triển đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam đã cùng đoàn kết, chung sức vượt qua khó khăn, hy sinh, gian khổ, đánh bại những kẻ thù hùng mạnh nhất thời đại. Thành quả vĩ đại đó có phần đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Mông.

Người Mông ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử là một dân tộc đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sống hòa thuận với cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Do tập tục du canh, du cư nên địa bàn sinh sống không cố định; người Mông sinh sống rải rác trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Nghệ An… vì những lý do trên đời sống của đồng bào Mông còn gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu thực sự của đồng bào là giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần. Trong lịch sử tồn tại và phát triển, dân tộc Mông luôn có tinh thần đoàn kết bất khuất, chống áp bức, chống đồng hóa của ngoại tộc, luôn thể hiện bản lĩnh, sự cần cù, chịu khó, sáng tạo của người Mông trong lao động sản xuất, nên đã tạo dựng được cuộc sống tự lập ở vùng núi cao để tồn tại, mong ước vươn tới, có một cuộc sống ổn định đầy đủ và hạnh phúc. Nhưng cuộc sống vẫn gặp khó khăn, bế tắc, không lối thoát.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, đồng bào Mông ở Việt Nam đã đặt trọn niềm tin vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hào hùng, trong đồng bào dân tộc Mông đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất, tiêu biểu như Vừ Pa Chay, Sồng Phá Sinh, Vừ A Dính… nhiều vùng tập trung đông người Mông đã trở thành khu du kích, khu căn cứ địa chống Pháp, chống Mỹ, góp phần giải phóng đất nước, thống nhất nước nhà.

Tuy nhiên sau giải phóng đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch lại dựng chuyện vua Mông xuất hiện ở Lào, một số vùng Mông ở Tây Bắc trong đó có Sơn La cũng xưng vua, nổi phỉ. Trung tuần tháng 8 năm 2003. Một số người dân tộc Mông (chủ yếu là thanh niên) ở vùng biên giới Sông Mã, Sốp Cộp, nghe theo kẻ xấu tuyên truyền lôi kéo người Mông sang Lào để xem vua Mông, nhưng thực tế là bị May Hờ là người Mông bên Lào khống chế bắt phải theo May Hờ đi gây rối an ninh tại nước bạn Lào. Một số người bị Quân đội, Công an Lào bắt, một số chạy vào rừng sâu, một số nghe theo lời kêu gọi của chính quyền về đoàn tụ với gia đình. Nhưng còn một số người vì lý do khác nhau, cho đến nay vẫn chưa ra trình diện với chính quyền. Cấp ủy Đảng, chính quyền của tỉnh rất thông cảm với dân bản đã bị kẻ xấu lừa phỉnh, đi làm điều xấu, vừa làm khổ cho bản mình, cho gia đình, dòng họ mình, vừa gây mất an ninh biên giới. Không ít già bản người Mông ở vùng biên giới Sông Mã, Sốp Cộp bị kẻ xấu lừa sang Lào đón vua Mông, đến nay vẫn không quên chuyện này vì vua chẳng thấy đâu…

 Vì vậy, bà con mình nên hiểu rằng, các phần tử xấu đã lợi dụng việc người Mông có lòng tin mãnh liệt vào sự xuất hiện của một “ông Vua” để lừa đảo bà con người Mông, làm cho người Mông càng khổ hơn. Xin nhắc lại những lần “Xưng đón Vua” trước đây của người Mông với biết bao khổ cực, nước mắt đau thương để bà con hiểu rằng: Không thể có “Vua Mông”, “Nhà nước ly khai, tự trị”, đó chỉ là lời nói dối, lừa gạt của kẻ xấu, chỉ có tin theo Đảng, theo Bác Hồ thì đồng bào Mông mới có cuộc sống ấm no, sung sướng mà thôi.

Giải pháp để bảo vệ bà con dân tộc mình:

  1. Khi phát hiện hành động rủ rê đi sang Lào, Trung Quốc… hoặc làm những việc sai trái phải khẩn trương báo cáo chính quyền địa phương để ngăn chặn kịp thời.
  2. Mỗi người dân, chủ hộ, cần gương mẫu đi đầu và tuyên truyền cho người thân biết được những việc làm trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước cũng như quy ước, hương ước của địa phương.
  3. Mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, đồng thời phối hợp với chính quyền, Công an, quân đội… chống lại kẻ xấu, bảo vệ bà con dân tộc mình, bảo vệ nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tham gia bảo vệ ANTT tại bản, làng mình.

Chi tiết

Chuyên đề 3: Một số quy định của pháp luật về quản lý người nước ngoài và quản lý xuất, nhập cảnh

CHUYÊN ĐỀ 3

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ XUẤT, NHẬP CẢNH

  1. Khi gia đình có người thân là người nước ngoài, đến ở thăm gia đình, phải hướng dẫn người thân của mình là nước ngoài mang các giấy tờ xuất nhập cảnh (Hộ chiếu, thị thực hoặc giấy tờ thay hộ chiếu) đến khai báo với Công an viên bản, Công an xã, phường, thị trấn để khai báo tạm trú với chính quyền địa phương theo Điều 33 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
  2. Người nước ngoài muốn vào khu vực Biên giới, trước khi vào địa bàn phải có đơn đề nghị của thân nhân người nước ngoài hoặc tổ chức đứng ra bảo lãnh, có xác nhận của Trưởng Công an xã, phường, thị trấn cùng với thân nhân người nước ngoài đến cơ quan có thẩm quyền (Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh) đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian tạm trú ở địa phương phải khai báo tạm trú theo Điều 33 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
  3. Tình hình xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, di cư sang Lào.

Trong những năm gần đây, số lượng người dân Sơn La xuất cảnh sang Trung Quốc, sang Lào làm thuê có chiều hướng gia tăng, một số đối tượng ở các tỉnh khác đến lôi kéo với nhiều thủ đoạn như: sang đi lao động nhàn hạ với mức lương cao, công việc ổn định phù hợp với người dân, việc đi lại thuận lợi, dễ dàng, khi đi có xe ô tô đưa đón, được ưu đãi về nhiều mặt… một số người dân, do nhận thức hạn chế, tin theo lời dụ dỗ của các đối tượng, đã xuất cảnh trái phép đi Trung Quốc theo các đường tiểu mạch giữa Việt Nam – Trung Quốc hoặc đi bằng thông hành biên giới sau đó ở lại Trung Quốc lao động làm thuê, nhiều trường hợp bị lừa bán sang Trung Quốc gây ảnh hưởng không nhỏ tới ANTT trên địa bàn, thực tế đã xảy ra tại địa bàn huyện Bắc Yên; Phù Yên.

Việc xuất cảnh trái phép, di cư sang Lào tuy những năm qua không nhiều nhưng tình trạng di cư tự do của đồng bào dân tộc Mông diễn ra hết sức phức tạp. Một phần là do địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện sống, điều kiện giao thông rất khó khăn, ít có điều kiện giao lưu, thông thương mọi mặt với các vùng dân tộc khác nên vùng đồng bào dân tộc Mông cư trú thường gặp khó khăn về nhiều mặt. Trình độ của đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu chưa thực sự bị loại bỏ, trong khi đó tập quán du canh, du cư vẫn còn tồn tại trong tiềm thức một bộ phận người dân. Với đặc điểm dễ tin, dễ ngờ nên một bộ phận dân tộc Mông dễ bị kẻ xấu lợi dụng, tác động, kích động, lôi kéo đi sang Lào; với luận điệu: đất rộng, người thưa, đất đai mầu mỡ, được phía bạn Lào tạo điều kiện để làm ăn… do đó đã đánh trúng và tâm lý đồng bào, trong khi ở Việt Nam điều kiện đất đai chật hẹp, đi lại còn nhiều khó khăn, kinh tế nghèo khó đã dẫn đến đồng bào dân tộc Mông di cư tự do đi Lào khá nhiều.

Thực tế trên đã gây tác động ảnh hưởng không nhỏ tới công tác Quản lý địa bàn quản lý nhân khẩu của các cấp chính quyền nhất là cấp xã, bản; khi sang đất bạn Lào do nhập cảnh, cư trú trái phép nên phần lớn đã bị phía chính quyền Lào bắt giữ và trao trả, khi quay trở về quê cũ mặc dù được tỉnh, huyện, xã quan tâm, hỗ trợ xong cuộc sống gặp nhiều khó khăn; do vậy ổn định, định canh, định cư, phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu.

  1. Tình hình tội phạm lợi dụng việc xuất cảnh để mua bán người.

Nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc (dưới nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi), số đối tượng lừa đảo, buôn bán người hoạt động có sự câu kết giữa các đối tượng ở trong nước với đối tượng ở nước ngoài (là người Trung Quốc, hoặc là người Việt Nam đang ở Trung Quốc, người ở tỉnh khác sẵn có mối quan hệ với các đối tượng ở Trung Quốc), các đối tượng này thường đi đến các bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế để tìm những phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa thấp; hạn chế về hiểu biết xã hội, không có việc làm ổn định; chúng dùng thủ đoạn là tạo lòng tin, hứa hẹn tìm việc làm có thu nhập cao hoặc lấy làm vợ có cuộc sống sung sướng…sau đó tổ chức đưa người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc qua các đường tiểu mạch hoặc tổ chức xuất cảnh sang Trung Quốc bằng giấy thông hành do cơ quan Công an có đường biên giới giáp với Trung Quốc rồi bán người cho các đối tượng bên Trung Quốc (mua về làm vợ; hoặc bán cho các chủ nhà chứa, các chủ có sử dụng lao động…). Hậu quả rủi ro đến với người dân bị lừa bán sang Trung Quốc là rất lớn, thực tế đã xảy ra: Bị bắt giữ; bị chủ ngược đãi, bị quỵt lương, bị bán làm vợ cho cả gia đình, bị bán vào các động mại dâm… Một số phụ nữ khi bị phía Trung Quốc trao trả, thông báo đã bị HIV – AIDS… nhiều trường hợp không có cơ hội quay trở về Việt Nam, về nhà.

  1. Các quy định của Nhà nước xử lý hành vi vi phạm về quản lý người nước ngoài; xuất cảnh, nhập cảnh trái phép

5.1. Người nước ngoài đi lại trên lãnh thổ Việt Nam mà không mang theo hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

5.2. Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

5.3. Người cho người nước ngoài nghỉ qua đêm nhưng không khai báo tạm trú, không hướng dẫn người nước ngoài khai báo tạm trú thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

5.4. Người nước ngoài vi phạm quy chế về khu vực biên giới thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm; cấm cư trú từ một 01 năm đến 05 năm.

5.5. Người vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; người nước ngoài ở lại Việt Nam trái phép thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5.6. Người tổ chức, môi giới, giúp đỡ người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm; ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5.7. Người cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thì bị phạt tù từ 02 năm đến 20 năm.

  1. Để ngăn chặn, hạn chế việc công dân xuất cảnh trái phép hoặc bị lừa bán qua biên giới, Cấp uỷ, chính quyền địa phương và các ngành, đoàn thể cần:

– Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực xuất nhập cảnh; tuyên truyền các thủ đoạn dụ dỗ, lôi kéo, mua bán người của các đối tượng; tuyên truyền về hậu quả, tác hại của việc bị lừa bán đi nước ngoài để nhân dân cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh.

– Nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, phát hiện kịp thời các dấu hiệu đối tượng ở địa phương khác đến móc nối, lôi kéo người dân di cư tự do, xuất cảnh trái phép, hoạt động mua bán người… thông báo cho các lực lượng chức năng đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời,

 Tổ chức rà soát, thống kê số công dân trên địa bàn xuất cảnh đi Trung Quốc, Lào dưới các hình thức, từ đó chủ động khai thác số đã trở về để nắm phương thức, thủ đoạn của các đối tượng để đề ra kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn và trong công tác phòng ngừa.

 Các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh, Công an huyện tập trung đấu tranh với các hoạt động lôi kéo, đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài nói chung và đi Trung Quốc, Lào lao động làm thuê bất hợp pháp nói riêng; các đối tượng mua bán người; đồng thời thông báo các thủ đoạn hoạt động của đối tượng để quần chúng nhân dân biết, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn không mắc mưu kẻ xấu.

Chi tiết

Chuyên đề 4: Thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa, giải quyết vấn đề di cư tự do

CHUYÊN ĐỀ 4

THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP

PHÒNG NGỪA, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DI CƯ TỰ DO

  1. Thực trạng tình hình

Mặc dù các cấp, các ngành của huyện, tỉnh thường xuyên tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, tuy nhiên trong thời gian qua, tình hình di cư tự do trên địa bàn toàn tỉnh vẫn diễn ra phức tạp, tập trung chủ yếu ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, nơi điều kiện sống và sinh hoạt của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn (nhất là trong vùng đồng bào dân tộc Mông).

Tình trạng di cư tự do đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp gây mất ổn định ANTT trên địa bàn.

Trong năm 2015 trên địa bàn tỉnh Sơn La phát hiện: 135 hộ = 610 khẩu di cư tự do, trong đó: Di cư nội tỉnh: 27 hộ = 117 khẩu; Di cư đi tỉnh khác: 78 hộ = 342 khẩu; Di cư sang Lào: 18 hộ = 88 khẩu; Di cư đi nước khác: 05 hộ = 31 khẩu; Tỉnh khác di cư đến: 07 hộ = 32  khẩu. Tiếp nhận 13 đợt, 34 đối tượng do Lào, Trung Quốc trao trả.

Trong quý I năm 2016 (từ 15/11/2015 đến ngày 10/02/2016) phát hiện 34 hộ = 162 khẩu di cư tự do, trong đó: Di cư nội tỉnh: 10 hộ = 47 khẩu; Di cư đi tỉnh khác: 15 hộ = 58 khẩu; Di cư sang Lào: 03 hộ = 15 khẩu; Di cư đi nước khác (Myanmar) : 05 hộ = 23 khẩu; Lào di cư sang Việt Nam: 01 hộ = 09 khẩu

  1. Hậu quả, tác hại

– Di cư tự do sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý địa bàn, dân cư của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cả nơi di cư đi và nơi di cư đến; ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách dân tộc, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước; gây xáo trộn sinh hoạt trong cộng đồng khu dân cư, mất ổn định tình hình ANTT trên địa bàn.

– Gây mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa người di cư và người không di cư, nhất là trong anh, em, họ hàng dòng tộc và trong thôn, bản. Đây là điều kiện để các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng chia rẽ, lôi kéo đồng bào tham gia vào hoạt động tuyên truyền lập“Nhà nước ly khai, tự trị”; và các hoạt động vi phạm pháp luật khác.

– Cuộc sống của những người di cư sẽ ngày càng khó khăn, do dân di cư tự do đến ở một số nơi không được chính quyền sở tại quan tâm, tạo điều kiện để họ hòa nhập với nơi ở mới, hơn nữa khi số người dân tới tăng lên, ngoài mức quy hoạch của địa phương nơi đến sẽ dẫn tới quá tải, thiếu đất sản xuất, thiếu trường học, bệnh viện… sẽ gây nên tình trạng đời sống bà con nhân dân tạm bợ, đói nghèo, thiếu lương thực hoặc đời sống không được đảm bảo. Người dân tộc Mông thường nói: “Giàu di cư thì nghèo, nghèo di cư thì chết”.

– Việc di cư khi cuộc sống và nơi ở không ổn định dẫn tới phá rừng làm nương rẫy, tàn phá tài nguyên và ảnh hưởng tới môi trường sống, hậu quả là biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán hết sức nghiêm trọng và khó lường.

  1. Nguyên nhân

– Do địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện sống còn gặp nhiều khó khăn, đồng bào còn thiếu đất ở và đất sản xuất.

– Do ảnh hưởng tâm lý, tập quán du canh, du cư của đồng bào cộng với trình độ canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào sự màu mỡ của đất đai. Khi đất bạc màu thi di cư.

– Do mối quan hệ đồng tộc, thân tộc cùng với đặc điểm tâm lý “dễ tin, dễ nghe” của đồng bào nên dễ bị tác động, lôi kéo bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch và phần tử xấu.

– Việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân… chưa được các cấp chính quyền địa phương kịp thời giải quyết.

– Công tác nắm tình hình, quản lý nhân hộ khẩu ở một số địa bàn chưa kịp thời, chưa chặt chẽ.

  1. Giải pháp giải quyết vấn đề di cư tự do

– Cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế, xã hội, từng bước nâng cao đời sống cho đồng bào (thực hiện chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo, sắp xếp lại dân cư, quy hoạch đất sản xuất…); xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội qui, hương ước của địa phương nơi cư trú; yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống trên quê hương.

– Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân với nội dung phong phú, hình thức phù hợp, hiệu quả; triển khai các phương án phòng ngừa, ngăn chặn di cư tự do, nhất là di cư sang Lào. Phát hiện và xử lý nghiêm những đối tượng kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông di cư tự do nhằm tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước ly khai, tự trị”.

– Tăng cường quản lý hành chính, quản lý nhân, hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng chặt chẽ, nắm chắc di biến động trong dân cư, lao động ở các địa bàn giáp ranh biên giới.

– Phát động sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, xây dựng thế trận An ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc Sơn La nâng cao cảnh giác cách mạng, yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, thoát nghèo và từng bước làm giàu trên quê hương, không nghe theo luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu, không di cư tự do.

Chi tiết

Chuyên đề 5: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp giải quyết vấn đề tuyên truyền đạo trái pháp luật

CHUYÊN ĐỀ 5

TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN ĐẠO TRÁI PHÁP LUẬT

  1. Tình hình tôn giáo trên địa bàn Sơn La

Tính đến cuối năm 2015 trên địa bàn Sơn La có 04 tôn giáo: Công giáo, Tin lành (gồm các hệ phái: Tin lành LHCĐ, Tin lành miền Bắc, Tin lành trưởng lão, Tin lành Báp Tít, Tin lành Phúc Âm Ngũ Tuần, Tin lành Truyền giáo Phúc âm), Đạo Phật và Tà đạo Hồ Chí Minh. Gồm 3.087 hộ = 17.194 khẩu theo tôn giáo, có mặt tại 12/12 huyện, thành phố.

Trong những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền đạo trái phép của các đối tượng có xu hướng gia tăng; tình trạng mâu thuẫn, gây mất đoàn kết giữa anh em họ hàng trong gia đình người theo đạo và không theo đạo vẫn xảy ra, đã có một số cá nhân xúi giục người theo đạo viết đơn đề nghị, kiến nghị đến các cấp, các ngành của tỉnh, gây khó khăn cho công tác quản lý ở địa phương; tình hình xây dựng nhà nguyện trá hình ở các địa bàn vẫn diễn biến phức tạp; Một số đối tượng có dấu hiệu lợi dụng hoạt động tôn giáo để tuyên truyền lập “Nhà nước ly khai tự trị”.

  1. Hậu quả, tác hại

– Những người theo đạo thường bị các đối tượng cầm đầu, cốt cán điều khiển, chi phối, ràng buộc bằng giáo lý, giáo luật, không tham gia hoặc ít được  tham gia các hoạt động kinh tế – xã hội do cấp ủy, chính quyền phát động (như: họp tổ bản, tham gia các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, phát triển kinh tế…), dẫn tới lạc hậu, đói nghèo.

– Đồng bào dân tộc thiểu số có truyền thống văn hóa đặc sắc được lưu giữ, bảo tồn và phát huy qua nhiều thế hệ. Đây là những giá trị văn hóa tinh thần vô giá, để con cháu đời sau hiểu biết về lịch sử, truyền thống hào hùng của cha ông trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên, xây dựng cộng đồng dân tộc đoàn kết, gắn bó. Theo tôn giáo khó có điều kiện để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống nêu trên.

– Một bộ phận theo tôn giáo đã gây nên tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa người theo đạo và người không theo đạo, thậm chí tạo nên mâu thuẫn trong gia đình, dòng họ giữa cha với con, vợ với chồng, anh với em… gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

– Chỉ cầu nguyện và tin vào sự phù hộ của Chúa trời, không chăm chỉ lao động sản xuất dẫn tới thiếu cái ăn, cái mặc, khó khăn, đói nghèo đeo bám.

  1. Nguyên nhân

* Nguyên nhân khách quan

– Tuyên truyền phát triển đạo nằm trong giáo lý của hầu hết các tôn giáo.

– Việc tuyên truyền, phát triển đạo vào vùng dân tộc thiểu số nằm trong âm mưu của các thế lực thù địch và các tổ chức tôn giáo trong, ngoài nước nhằm gia tăng ảnh hưởng, gây dựng lực lượng.

– Trình độ dân trí chưa đồng đều, đời sống nhân dân của đồng bào vùng sâu, vùng cao, biên giới còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh còn thấp, còn có một số hủ tục lạc hậu chưa được loại bỏ cho nên một bộ phận đồng bào đã bị số đối tượng tuyên truyền lôi kéo tin và theo đạo.

* Nguyên nhân chủ quan

– Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo còn có mặt hạn chế; Cấp ủy, chính quyền ở một số địa bàn còn né tránh, buông lỏng sự quản lý, chưa vận dụng sáng tạo các chính sách tôn giáo và hoàn cảnh thực tế nên việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo còn chủ quan, nóng vội, tạo nhiều kẽ hở để các phần tử xấu lợi dụng tuyên truyền lôi kéo đồng bào theo đạo.

– Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, các truyền thống văn hóa tốt đẹp chưa được phát huy trong khi vẫn còn tồn tại các hủ tục lạc hậu chưa được xóa bỏ, do đó người dân theo tôn giáo để giảm bớt phải thực hiện hủ tục và  nhằm cổ vũ, động viên tinh thần.

– Công tác tuyên truyền giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở một số bản vùng sâu, vùng cao, biên giới chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao, chưa sát với thực tế; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng ở một số nơi còn thiếu đồng bộ.

– Công tác nắm tình hình và đấu tranh với hoạt động tuyên truyền đạo trái phép có lúc còn chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao.

  1. Giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn

– Cấp ủy, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội trong vùng đồng bào DTTS nói chung, vùng đồng bào có đạo nói riêng, thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đẩy lùi tiến tới xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, để đồng bào thấy được ưu việt của chế độ, sự quan tâm sát sao của Đảng, Nhà nước, giá trị văn hóa tinh thần to lớn của phong tục truyền thống do tổ tiên truyền lại.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhất là trong vùng đồng bào theo đạo, vùng dân tộc thiểu số thấy được đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn của Đảng; đồng thời thấy được âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chống phá chính sách tôn giáo của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc – tôn giáo.

– Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo đúng hiến chương, điều lệ, thuần túy tôn giáo. Mọi hoạt động tôn giáo phải được đảm bảo thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước. Xây dựng và làm tốt công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tôn giáo.

– Lực lượng Công an làm nòng cốt trong công tác đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo xâm phạm ANQG, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong công tác quản lý nhà nước về Tôn giáo. Đấu tranh, ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tôn giáo, chống đối chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Chi tiết

Chuyên đề 6: Tình hình, nguyên nhân và biện pháp giải quyết tình trạng tranh chấp đất đai

CHUYÊN ĐỀ 6

TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

  1. Tình hình

Tính đến cuối năm 2015, tỉnh Sơn La còn tồn đọng 38 điểm tranh chấp đất đai, tập trung ở tất cả các huyện trong tỉnh. Các vụ tranh chấp đất đai trên địa bàn toàn tỉnh mặc dù đã được các cấp, các ban ngành chức năng của huyện, tỉnh quan tâm nhưng giải quyết chưa dứt điểm, kết quả giải quyết chưa tạo được sự thống nhất giữa các bên tranh chấp, nên tình trạng tranh chấp vẫn tiếp tục xảy ra mỗi khi mùa canh tác đến. Một số vụ có tính chất, mức độ khá phức tạp, xảy ra nhiều năm liên tiếp, liên quan đến nhiều hộ dân, nhiều địa bàn trong và ngoài huyện, thậm chí giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh khác, diện tích đất tranh chấp rộng, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, tuy chưa phát hiện có các phần tử bên ngoài lợi dụng kích động nhân dân nhưng đây là yếu tố tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp gây mất ổn định ANTT tại địa bàn.

  1. Hậu quả, tác hại

– Tình trạng tranh chấp kéo dài, mức độ mâu thuẫn ngày càng căng thẳng dễ xảy ra xung đột, gây mất đoàn kết dân tộc, mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng khoét sâu mâu thuẫn, gây mất ổn định chính trị, hình thành “điểm nóng” về ANTT.

– Đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn như: cây trồng bị phá hoại (bên này trồng thì bên kia phá) làm cho việc canh tác, sản xuất bị đình trệ; nhân dân hoang mang, lo sợ, không yên tâm lao động sản xuất; thậm chí còn xảy ra xung đột, căng thẳng, xô xát, dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật khác.

– Các vụ tranh chấp kéo dài, không được giải quyết dứt điểm dễ dẫn đến việc các đối tượng phản động, kẻ xấu lợi dụng tuyên truyền, kích động nhân dân gây mất ổn định tình hình ANTT và vi phạm pháp luật, nhân dân không tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Đây là hậu quả, tác hại đáng lo ngại nhất.

  1. Nguyên nhân

* Nguyên nhân khách quan

– Đời sống nhân dân ở khu vực xảy ra tranh chấp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (trồng ngô, sắn), dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng đất cũng tăng theo trong khi diện tích canh tác có hạn.

– Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang phát triển, sản phẩm cây trồng ngày càng có giá trị, làm tăng giá trị sử dụng của đất đai, dẫn đến tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất đai ngày càng tăng.

* Nguyên nhân chủ quan

– Công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền cơ sở có nơi còn bị buông lỏng, chưa có quy hoạch cụ thể, khi chuyển đổi mục đích sử dụng không giải quyết hợp lý, đụng chạm đến lợi ích của nhân dân.

– Việc triển khai thực hiện Chỉ thị 364 của Chính phủ còn nhiều bất cập, việc hoạch định lại đường địa giới hành chính chưa phù hợp với tình hình thực tế quản lý, lịch sử canh tác và đời sống của nhân dân.

– Việc tuyên truyền giáo dục về chính sách pháp luật quản lý đất đai của Nhà nước chưa được quan tâm, đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu hiểu biết về pháp luật nhất là luật đất đai, bên cạnh đó nhận thức của một số cán bộ cơ sở còn yếu dẫn đến thực hiện sai chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

– Một số địa bàn giáp ranh mật độ dân cư chênh lệch, có nơi thiếu đất canh tác, có nơi chưa có nhu cầu sử dụng nên đã xảy ra tình trạng cho mượn đất canh tác thời gian dài nhưng không có giấy tờ chứng thực, đến thời hạn không giao trả, chiếm dụng tranh chấp đất đai, vừa gây khó khăn cho công tác quản lý, vừa gây phức tạp khi giải quyết theo các quy định của pháp luật.

– Khi có tranh chấp, chính quyền cơ sở chưa có biện pháp tích cực, kịp thời để ngăn chặn những hành động quá khích, chưa tìm ra nguyên nhân chủ yếu, cốt lõi để giải quyết dứt điểm. Do vậy nhiều vụ ban đầu ở mức độ nhỏ nhưng để kéo dài phát sinh mâu thuẫn thành vấn đề nghiêm trọng, phức tạp hơn. Bên cạnh đó, việc điều tra xử lý thiếu kiên quyết đối với số vi phạm pháp luật, lợi dụng mâu thuẫn kích động nhân dân gây rối TTCC, dẫn đến hiệu quả công tác phòng ngừa thấp.

  1. Giải pháp

– Cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành chức năng phối hợp giải quyết, xác định đúng nguyên nhân, điều kiện, tính chất, xác định đối tượng cầm đầu quá khích, phần tử xấu lợi dụng kích động quần chúng nhân dân gây rối trật tự để có biện pháp phân hóa, răn đe và giáo dục đối tượng, đồng thời kiên quyết xử lý cán bộ vi phạm chính sách pháp luật, ổn định ANTT địa bàn.

– Tăng cường công tác tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật tới các tầng lớp nhân dân. Chú ý công tác tranh thủ, vận động người có uy tín, già bản, trưởng bản đứng ra tham gia giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn.

– Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ và giao đất, giao rừng đến từng hộ dân, quy hoạch quản lý thống nhất, chủ động ngăn chặn các vụ tranh chấp, lấn chiếm đất đai dẫn đến khiếu nại, tố cáo phức tạp.

– Giải quyết dứt điểm các vụ việc xảy ra ở địa bàn phải thực hiện theo phương châm: Thu nhỏ sự việc, không để lây lan, kéo dài; khi xem xét giải quyết phải đặt trong mối quan hệ đảm bảo an ninh trong phạm vi xã, huyện, tỉnh, toàn quốc, trong mối quan hệ với tôn giáo, dân tộc. Không để các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu cáo, kích động hoặc can thiệp chống phá ta.

– Làm tốt các mặt công tác đảm bảo an sinh xã hội, quản lý dân cư, ổn định kinh tế, xã hội ở các địa phương.

Chi tiết

Chuyên đề 7: Tình hình, nguyên nhân và biện pháp giải quyết hoạt động khiếu kiện đông người, vượt cấp

CHUYÊN ĐỀ 7

TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP

GIẢI QUYẾT HOẠT ĐỘNG KHIẾU KIỆN ĐÔNG NGƯỜI, VƯỢT CẤP

  1. Tình hình

Thời gian gần đây, tình hình công dân khiếu kiện (khiếu nại, tố cáo) diễn biến khá phức tạp, có nhiều vụ khiếu kiện kéo dài, đông người, vượt cấp, trong dó có những phần tử quá khích, có người khiếu kiện thuê hoặc xúi giục người khác đi khiếu kiện … gây ảnh hưởng đến tình hình ANTT tại địa bàn, có nhiều công dân khiếu kiện trực tiếp tại các cơ quan của tỉnh, trung ương tại Hà Nội. Bên cạnh số khiếu kiện vượt cấp, chưa tuân thủ pháp luật, có một số đơn kêu oan không chấp nhận nội dung giải quyết của một số cơ quan Nhà nước, đề nghị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước xem xét lại.

Trong năm 2015, toàn tỉnh Sơn La có 32 vụ khiếu kiện phức tạp (tồn đọng từ những năm trước 23 vụ, phát sinh mới 09 vụ), đã giải quyết ổn định 17 vụ, còn 15 vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài; trong đó có 05 vụ khiếu kiện vượt cấp xuống Trung ương. Trong thời gian tới, tình hình khiếu kiện có thể còn tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng xuyên tạc, kích động chống đối nhằm gây mất ổn định chính trị và ANTT.

  1. Hậu quả, tác hại

– Một số vụ khiếu kiện liên quan đến chế độ, chính sách di dân, tái định cư các công trình thủy điện và liên quan đến đất đai, các chế độ chính sách khác tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nếu không được giải quyết kịp thời, thỏa đáng sẽ gây bức xúc trong nhân dân, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, kích động chống phá, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn. Một số đối tượng đeo bám khiếu kiện dài ngày tại Trung ương dễ bị các phần tử xấu trong tổ chức phản động (Hội dân oan) móc nối, lôi kéo tham gia các hoạt động xâm phạm ANQG.

– Các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp thường gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan Đảng, Nhà nước, hoạt động của các đồng chí lãnh đạo, dễ bị các thế lực thù địch và phần tử xấu ghi hình, phỏng vấn nhằm bôi nhọ, xuyên tạc, hạ uy tín Đảng và Nhà nước; gây giảm sút niềm tin của nhân dân đối với một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

  1. Nguyên nhân

– Do quá trình triển khai, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội của cơ quan chức năng còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ và bất cập so với tình hình thực tế tại địa phương, đặc biệt là trong thời gian qua việc áp dụng chính sách trong giải tỏa, giải phóng mặt bằng tuyến đường quốc lộ, cùng với đó là việc thực hiện chế độ, chính sách cho dân tái định cư phục vụ việc xây dựng các công trình thuỷ điện chưa được kịp thời, còn chậm, kéo dài, chưa phù hợp với giá thị trường tại thời điểm đền bù; việc xác định lại địa giới hành chính theo Chỉ thị 364/CT còn nhiều vấn đề bất bập.

– Do nhận thức của một số người dân còn hạn chế, chưa hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiều người còn mang nặng tư tưởng cá nhân, đặt quyền lợi cá nhân lên trên lợi ích tập thể. Mặt khác đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào nương rẫy nên khi triển khai thực hiện phân chia lại địa giới hành chính thì một bộ phận nhân dân mất hoặc thiếu đất sản xuất dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu kiện.

– Do trình độ năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn yếu, tinh thần trách nhiệm chưa cao, việc triển khai thực hiện chủ trương, chính sách và thực thi các chính sách kinh tế – xã hội của địa phương còn nhiều thiếu sót, chưa hợp lý, chưa thực sự quan tâm đến những thắc mắc, kiến nghị của quần chúng nhân dân…

– Công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhất là Luật đất đai, các văn bản hiện hành áp dụng cho từng địa phương, Luật khiếu nại, tố cáo chưa thực sự được quan tâm, còn chung chung và mang tính hình thức. Cùng với đó là việc thực hiện chế độ, chính sách, quyền lợi của dân đôi khi còn chậm tiến độ, không được đáp ứng kịp thời, do vậy tình trạng quần chúng nhân dân đi khiếu kiện vẫn xảy ra phức tạp.

  1. Giải pháp

– Tổ chức tốt công tác quản lý Nhà nước về ANTT, phát hiện những vấn đề không còn phù hợp hoặc thực hiện không đúng chính sách, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước để kiến nghị bổ sung, sửa đổi, chấn chỉnh kịp thời.

– Củng cố, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

– Các cơ quan chức năng cùng cấp phối hợp với lực lượng công an tiến hành rà soát các vụ khiếu kiện, xác định những vụ việc còn tồn đọng kéo dài, phức tạp từ đó phân loại, tham mưu, kiến nghị với UBND các cấp chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành chức năng có liên quan giải quyết dứt điểm.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Kiên quyết xử lý cán bộ sai phạm, không để các thế lực thù địch và kẻ xấu kích động, lôi kéo đông người lên, huyện, thành phố, tỉnh, Trung ương khiếu kiện.

– Lực lượng Công an chủ động trong công tác nắm tình hình, tham mưu cho cấp ủy chính quyền thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đảm bảo an ninh trật tự tại địa bàn trọng điểm về khiếu kiện; kịp thời phát hiện những nguyên nhân có thể dẫn tới khiếu kiện để chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở chỉ đạo giải quyết dứt điểm tại cơ sở không để phát sinh thành khiếu kiện phức tạp, hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh các vụ khiếu kiện mới.

Chi tiết

Chuyên đề 8: Tình hình tội phạm giết người do nguyên nhân xã hội và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

CHUYÊN ĐỀ 8

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO NGUYÊN NHÂN XÃ HỘI

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

  1. Tình hình tội phạm giết người do nguyên nhân xã hội

Trong năm qua, tình hình tội phạm giết người do nguyên nhân xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng tăng cả về số vụ và tính chất hậu quả của tội phạm gây ra ngày càng nghiêm trọng, xâm phạm tính mạng, sức khỏe công dân, gây xôn xao dư luận xã hội và ảnh hưởng xấu đến tình hình ANTT tại địa phương. Đáng chú ý có nhiều vụ giết người do chính những người thân trong gia đình gây ra, mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc mâu thuẫn trong sinh hoạt, quan hệ tình ái, tranh chấp tài sản hoặc do mâu thuẫn kéo dài lâu ngày không được hòa giải dẫn đến án mạng; ngoài ra tình trạng thanh thiếu niên tụ tập đi chơi gây gổ dẫn đến đánh chém nhau có xu hướng gia tăng.

Năm 2015 trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ giết người, làm chết 16 người, bị thương 04 người (chiếm 2,3% tổng số vụ phạm pháp về TTXH), tăng 01 vụ so với năm 2014. Trong đó: Chồng giết vợ 03 vụ; vợ giết chồng 03 vụ; giết người do tình ái 02 vụ; giết người do mâu thuẫn cá nhân 08 vụ; giết người liên quan đến mua bán ma túy 01 vụ; giết người thi hành công vụ 01 vụ; giết người do dùng điện chống trộm cắp 01 vụ; giết, hiếp, hủy hoại tài sản 01 vụ. Địa bàn xảy ra tại 9/12 huyện, thành phố, trong đó: Sông Mã 05 vụ, Thành phố Sơn La và Mộc Châu mỗi nơi 03 vụ; Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La mỗi nơi 02 vụ; Yên Châu, Phù Yên, Bắc Yên mỗi nơi 01 vụ. Đáng chú ý có 03 vụ vợ giết chồng đều bằng thủ đoạn đầu độc chồng bằng lá ngón nấu canh hoặc đun nước cho uống. Lực lượng chức năng đã điều tra làm rõ 20/20 vụ, bắt giữ, xử lý 24 đối tượng gây án.

Trong quý I/2016, tại địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ án giết người đều do nguyên nhân xã hội. Hậu quả làm chết 05 người, bị thương 02 người (Mộc Châu, Phù Yên mỗi nơi 02 vụ; Vân Hồ, Sông Mã, Mường La mỗi nơi 01 vụ), đã điều tra làm rõ và khởi tố 07 vụ án, 07 bị can.

  1. Nguyên nhân

– Giết người do mâu thuẫn thù tức kéo dài: Chủ yếu xuất phát từ những mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, những mâu thuẫn này rất đa dạng, đan xen nhau, tích tụ âm ỉ lâu ngày nảy sinh trong cuộc sống gia đình như quan hệ, lối sống, sinh hoạt; các vụ án chủ yếu xảy ra ở vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa còn hạn chế và còn thiếu hiểu biết về pháp luật. Một số vụ giết người do ghen tuông giữa vợ chồng, do nghi ngờ vợ hoặc chồng có quan hệ tình ái với người khác; Do các cá nhân có sự mâu thuẫn thù tức trong sinh hoạt, làm ăn, tranh chấp kinh tế, đất đai, tình ái, nghi vấn người khác làm hại gia đình mình…dẫn đến việc gây án để trả thù.

– Giết người do mâu thuẫn bột phát, nhất thời:

Chủ yếu xuất phát từ những va chạm trong lời nói, cử chỉ giữa các cá nhân, đặc biệt là nhóm thanh niên trong khi đi chơi dẫn đến kích động gây ra án mạng.

Một số vụ xảy ra do mâu thuẫn trong khi uống rượu, bia hoặc do vi phạm pháp luật khác như đánh bạc, giết người do bệnh lý (tâm thần)…

  1. Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

– Lực lượng Công an cơ sở, các tổ chức đoàn thể ở địa phương chủ động nắm chắc tình hình và giải quyết tốt những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân. Không để những mâu thuẫn, xích mích âm ỉ kéo dài dẫn đến xảy ra những vụ án mạng.

– Khi có các vụ việc mâu thuẫn trong quần chúng nhân dân nảy sinh trong cuộc sống sinh hoạt như tranh chấp về kinh tế, đất đai, nợ nần tài sản, về quan hệ tình ái, mâu thuẫn dòng họ, nội bộ gia đình, các hành vi bạo lực gia đình, hành vi côn đồ hung hãn…Tuỳ theo từng vụ việc cụ thể mà Công an cơ sở, các tổ chức đoàn thể tổ chức tốt công tác hòa giải ngay tại cơ sở hoặc lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hoặc lập hồ sơ đưa vào CSGD-TGD nếu còn tiếp tục vi phạm. …

– Quần chúng nhân dân phải chủ động thông tin báo cáo với Công an, chính quyền cơ sở, người thân biết để giải quyết khi có mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân, dòng họ, nội bộ gia đình và các hành vi bạo lực gia đình không để xảy ra xô xát dẫn đến án mạng.

– Chủ động phòng ngừa và đấu tranh với các ổ nhóm tội phạm hình sự không để chúng hoạt động phạm tội như bảo kê, đòi nợ thuê, thanh toán lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng, địa bàn; chú ý quản lý các nhóm thanh thiếu niên hư, thường lêu lổng tụ tập chơi bời ở quán xá, nhậu nhẹt rượu bia…

– Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nhất là ở khu vực trung tâm thành phố, thị trấn, các dịch vụ công cộng như  quán rượu bia; Karaoke; Bi-a; Internet để kịp thời ngăn chặn, xử lý các vụ gây rối trật tự, các vụ xô sát do mâu thuẫn giữa các nhóm thanh niên.

– Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật sâu rộng trong quần chúng nhân dân, để quần chúng nhân dân nắm kiến thức pháp luật, kỹ năng tự bảo vệ mình, hạn chế không để xảy ra những vụ xô sát, xung đột hoặc nếu xảy ra thì biết cách phòng tránh không để xảy ra những vụ giết người, cố ý gây thương tích, đồng thời tích cực tham gia tố giác tội phạm, giữ gìn ANTT.

– Tập trung lực lượng điều tra làm rõ các vụ án giết người do nguyên nhân xã hội; phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng củng cố chặt chẽ tài liệu chứng cứ,  kịp thời đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

  1. Hình phạt đối với người phạm tội giết người

– Người nào có hành vi giết người (kể cả chưa xảy ra hậu quả chết người), thì bị phạt tù từ 07 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

– Người nào chuẩn bị phạm tội giết người, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Chi tiết

Chuyên đề 9: Tình hình tội phạm mua bán người và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

CHUYÊN ĐỀ 9

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

  1. Tình hình tội phạm mua bán người

Thời gian qua, tình hình tội phạm mua bán người đã trở thành vấn nạn đáng báo động, gây bức xúc trong toàn xã hội, được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương tích cực tham gia phòng, chống. Theo số liệu của Bộ Công an cung cấp, năm 2015 toàn quốc xảy ra 407 vụ mua bán người (giảm 62 vụ = 13,21% so với năm 2014), tập trung ở địa bàn các tỉnh giáp biên giới phía Nam và phía Bắc.

Đối với tỉnh Sơn La, tuy không phải là địa bàn trọng điểm về loại tội phạm này nhưng thời gian qua tình hình tội phạm mua bán người diễn biến phức tạp, ngày càng gia tăng cả về số vụ và số nạn nhân bị mua bán, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình an ninh trật tự tại địa phương. Năm 2015 tại địa bàn tỉnh Sơn La đã phát hiện điều tra làm rõ 11 vụ, 21 đối tượng mua bán người và mua bán trẻ em (tăng 03 vụ 03 đối tượng so với năm 2014gồm 18 đối tượng Nam, 03 đối tượng Nữ) lừa bán 34 nạn nhân, gồm 02 trẻ em (tăng 22 nạn nhân so với năm 2014), trong đó: 11 nạn nhân đã được giải cứu khi đối tượng đang trên đường đưa đi bán, 09 nạn nhân đã tự giải cứu trở về, 01 nạn nhân được Công an Trung Quốc trao trả, còn 13 nạn nhân chưa được giải cứu. Các nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc đều với mục đích làm gái mại dâm, làm vợ người Trung Quốc…; Các đơn vị chức năng đang tiến hành điều tra xác minh 02 vụ nghi vấn mua bán người.

Từ ngày 16/11/2015 – 05/5/2016, trên địa bàn tỉnh Sơn La xảy ra 09 vụ 19 đối tượng lừa bán 15 nạn nhân. Đã khởi tố 09 vụ 19 bị can xử lý theo quy định pháp luật. Trong số 15 nạn nhân bị mua bán: 10 nạn nhân được giải cứu trên đường bị đưa đi bán, 02 nạn nhân tự trở về, hiện còn 03 nạn nhân chưa trở về. Ngoài ra các lực lượng chức năng đang tiến hành xác minh 01 vụ nghi lừa bán 02 nạn nhân (02 nạn nhân được giải cứu).

Ngoài ra qua công tác rà soát nắm tình hình tại các địa bàn trong tỉnh đã phát hiện 229 trường hợp công dân là phụ nữ, trẻ em vắng mặt tại địa phương nghi bị lừa bán ra nước ngoài (trong đó nghi bị bán sang Trung Quốc 202 người, bán sang Lào 01 người; chưa xác định được 26 người) đây là con số đáng báo động, cần có giải pháp để giải quyết.

  1. Đối tượng thực hiện hành vi mua bán người

– Là những người (cả nam và nữ) không có công việc ổn định, đã từng sinh sống, lao động ở Trung Quốc. Đối tượng đã từng có tiền án, tiền sự về các tội mua bán người, lừa đảo, các tệ nạn mại dâm, cờ bạc…

– Đối tượng trước đây từng là nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc hoạt động mại dâm, hoặc lấy chồng khi quay trở về địa phương dưới dạng thăm quê hoặc trốn về cấu kết với các đối tượng khác tìm những người nhẹ dạ, cả tin sau đó lừa bán sang Trung Quốc.

– Các đối tượng ở các tỉnh giáp ranh với biên giới Trung Quốc có nhiều mối quan hệ, đi lại, làm ăn bên Trung Quốc đến câu kết với các đối tượng tại địa bàn Sơn La vào đường dây mua bán người.

– Đối tượng chủ chứa hoạt động mại dâm ở bên Trung Quốc (người Trung Quốc hoặc người Việt Nam) đến câu kết với các đối tượng tại địa bàn Sơn La tham gia vào đường dây mua bán người.

  1. Nạn nhân của các vụ án mua bán người

– Nạn nhân rất đa dạng, nhưng chủ yếu là phụ nữ, trẻ em người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, thiếu hiểu biết về xã hội và kỹ năng sống, nhẹ dạ cả tin.

– Nạn nhân là học sinh, sinh viên trong các trường dạy nghề.

– Nạn nhân là những thanh niên trong độ tuổi lao động (kể cả nam giới) không có việc làm ổn định, thu nhập thấp.

– Một số nạn nhân là những người phụ nữ có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, ly hôn, chồng nghiện ma túy, nghiện rượu…

– Nạn nhân là những phụ nữ, trẻ em ham chơi đua đòi, thích mua sắm, đi chơi du lịch…

– Nạn nhân là những thiếu nữ mới lớn, trong độ tuổi yêu đương, xây dựng gia đình bị các đối tượng lừa gạt, giả vờ yêu đương, lấy làm vợ.

  1. Hậu quả tác hại của các vụ mua bán người

* Đối với nạn nhân:

– Tội phạm mua bán người xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân, nhiều người trong số họ bị mắc các bệnh truyền nhiễm, bị gia đình, xã hội hắt hủi, kỳ thị.

– Mất cơ hội học hành, công tác, lao động chân chính.

– Bị tước quyền công dân và quyền con người.

– Mặc cảm, bi quan, mất niềm tin vào cuộc sống, khó hòa nhập cuộc sống.

– Nhiều trường hợp sa vào tệ nạn xã hội.

* Đối với gia đình của các nạn nhân:

– Tâm trạng lo lắng, hoang mang, chồng mất vợ, con cái thiếu mẹ chăm sóc, cha mẹ, người thân mất con, cháu, chị em… ảnh hưởng lâu dài đến thế hệ con cái của họ.

– Tốn kém tiền bạc, thời gian và sức lực để tìm kiếm người thân.

* Đối với xã hội:

– Ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận bức xúc trong quần chúng nhân dân; ảnh hưởng lâu dài đến an ninh quốc phòng và TTATXH.

– Làm thiếu hụt lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.

  1. Thủ đoạn hoạt động của tội phạm mua bán người

– Đối tượng hoạt động phạm tội mua bán người thường có sự câu kết giữa các đối tượng ở các tỉnh phía Bắc có cửa khẩu, có đường biên giới với Trung Quốc và đối tượng là người Trung Quốc hoặc là người Việt Nam đang sống ở Trung Quốc về câu kết với người ở địa phương, trong đó có không ít các đối tượng trước đây đã từng là nạn nhân bị mua bán sang Trung Quốc nay trở về Việt Nam dụ dỗ, lừa các nạn nhân đưa đi bán; một số trường hợp nạn nhân còn bị bắt buộc, khống chế về nước lừa các nạn nhân khác sang thay thế và được các đối tượng (chủ chứa bên Trung Quốc) trả tiền mà họ đang nợ nạn nhân trong thời gian làm việc cho họ, đồng thời khuyến khích nạn nhân tìm kiếm các nạn nhân khác đưa sang bán với mức trả tiền cao, cuối cùng trở thành một “mắt xích” trong các đường dây mua bán người.

– Các đối tượng phạm tội mua bán người gồm cả nam và nữ giới; các nạn nhân bị mua bán tại địa bàn Sơn La thuộc nhiều thành phần dân tộc, nhưng chủ yếu là phụ nữ dân tộc Thái và Mông ở lứa tuổi từ 15 đến 30 tuổi, sau khi bị mua bán các nạn nhân bị đưa vào các chủ chứa để bán dâm hoặc ép làm vợ người Trung Quốc.

– Bọn chúng thường đi đến các bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tìm những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ văn hóa thấp, sự nhận thức và hiểu biết xã hội hạn chế, không có việc làm ổn định, kể cả người thân, họ hàng để dụ dỗ, lừa đưa đi bán. Các đối tượng thường dùng thủ đoạn tạo lòng tin rồi rủ đi làm thuê như bán hàng hoặc hứa hẹn tìm việc làm ở thành phố, các tỉnh biên giới như Lào Cai, Quảng Ninh, Lạng Sơn có thu nhập cao, sau đó đưa nạn nhân vượt biên giới theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc bán.

– Ngoài những nạn nhân có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiểu biết hạn chế, không có việc làm ổn định, thời gian qua một số nạn nhân bị mua bán còn là những người có học thức, có trình độ hiểu biết như học sinh, sinh viên, do ham chơi đua đòi đã bị các đối tượng dùng thủ đoạn kết bạn qua mạng Internet và các trang mạng xã hội như facebook, Zalo…để làm quen rồi xin số điện thoại liên lạc với nhau. Các đối tượng thường dùng tên và địa chỉ giả để kết bạn, làm quen, tán tỉnh yêu đương hứa hẹn lấy làm vợ. Khi tạo được lòng tin, chúng lấy lý do rủ nạn nhân đi du lịch, thăm quan mua sắm tại các tỉnh, thành phố có cửa khẩu, đường biên giới với Trung Quốc hoặc lý do về ra mắt nhà chồng chưa cưới… sau đó thực hiện hành vi mua bán người.

– Ngoài ra chúng còn lôi kéo nam, nữ thanh niên đi làm thuê ở các tỉnh giáp biên giới, khi có cơ hội chúng lừa bán sang Trung Quốc.

  1. Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

– Cấp uỷ, chính quyền và các ban, ngành chức năng ở cơ sở tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác với các thủ đoạn của đối tượng hoạt động phạm tội mua bán người, không nghe theo các lời dụ dỗ của người lạ, không quen biết, mới gặp lần đầu, không rõ địa chỉ mà hứa hẹn đưa đi làm ăn với mức thu nhập cao ở các khu vực, tỉnh giáp biên với Trung Quốc, hoặc đi chơi, du lịch, đi mua sắm, vận chuyển hàng thuê… một số trường hợp giả vờ hứa hẹn yêu đương, lấy làm vợ, lợi dụng khi đưa người yêu về ra mắt gia đình nhà chồng sau đó lừa bán.

– Đối với các trường hợp đã đi theo đối tượng, khi thấy nghi ngờ thì dứt khoát không đi, tìm cách gọi điện liên lạc thông báo cho người thân biết mình đang ở đâu, đi với ai, đang làm gì… nếu không nắm rõ địa chỉ nơi mình đang ở thì khi thấy người dân xung quanh phải tìm cách dò hỏi địa chỉ để thông báo cho người thân biết và tìm cách trốn khỏi sự quản lý của đối tượng, hoặc khi gặp các lực lượng chức năng như Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan… (kể cả ở Việt Nam hay bên Trung Quốc) phải hô hoán kêu cứu ngay. Các nạn nhân bị đưa bán sang Trung Quốc thường đi theo các đường tiểu ngạch, đi đò qua sông mà không qua đường cửa khẩu hợp pháp, do đó các nạn nhân cần nhận biết và cảnh giác.

– Những phụ nữ có gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị chồng bỏ hoặc ngược đãi nên cảnh giác với thủ đoạn đối tượng lừa đi làm thuê, lấy chồng nhằm đổi đời nhưng thực chất là lừa đi bán.

– Bố mẹ người thân cần nâng cao cảnh giác, quan tâm đến con em mình, thường xuyên dặn dò con em, trường hợp khi có người lạ không quen biết, người mới quen trên mạng… đến rủ đi chơi xa đến các tỉnh Lào Cai, Yên Bái và các tỉnh giáp danh với Trung Quốc phải báo cho người thân biết, cần nắm địa chỉ nơi đến.

– Khi phát hiện các vụ việc, đối tượng nghi vấn liên quan đến hoạt động mua bán người phải tìm lý do giữ đối tượng nghi vấn lại và kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng như Công an, chính quyền địa phương nơi gần nhất để có biện pháp xử lý.

  1. Xử lý hành vi phạm tội mua bán người

7.1. Người nào có hành vi mua, bán người, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 20 năm. Ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

7.2. Trường hợp mua, bán người dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ 07 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chi tiết

Chuyên đề 10: Tình hình tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

CHUYÊN ĐỀ 10

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM HẠI TRẺ EM VÀ TỘI PHẠM TRONG LỨA TUỔI CHƯA THÀNH NIÊN, NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

  1. Tình hình

Trong những năm qua, tình hình hoạt động của một số loại tội phạm hình sự đã được kiềm chế, góp phần đảm bảo ANTT tại địa phương. Tuy nhiên tình hình tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên còn diễn biến phức tạp như tội phạm giết trẻ em; hiếp, cưỡng hiếp, giao cấu với trẻ em, tội phạm mua bán trẻ em… và người chưa thành niên phạm tội vẫn xảy ra nhiều, gây xôn xao dư luận xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình ANTT. Năm 2015 trên địa bàn tỉnh xảy ra 22 vụ xâm hại trẻ em (giảm 02 vụ so với năm 2014) và 61 vụ người chưa thành niên thực hiện tội phạm (tăng 14 vụ), cụ thể:

– Tội phạm xâm hại trẻ em xảy ra 22 vụ 31 đối tượng, xâm hại 22 trẻ em (đều là trẻ em nữ). Đã điều tra làm rõ và khởi tố 22 vụ 31 đối tượng, trong đó: Hiếp dâm trẻ em 12 vụ (bằng năm 2014); Giao cấu với trẻ em 08 vụ (tăng 02 vụ); mua bán trẻ em 02 vụ (giảm 01 vụ).

– Tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên xảy ra 61 vụ, 110 đối tượng (tăng 14 vụ, 16 đối tượng so với năm 2014), trong đó có 02 vụ cướp tài sản, 07 vụ hiếp dâm, cưỡng dâm; 02 vụ cố ý gây thương tích; 36 vụ trộm cắp tài sản; 03 vụ cướp giật tài sản; 03 vụ đánh bạc; 04 vụ tội phạm về ma túy; 04 vụ huỷ hoại tài sản. Đã khởi tố 35 vụ, 51 bị can (tăng 25 vụ, 22 bị can); xử lý hành chính 26 vụ, 44 đối tượng (giảm 13 vụ 14 đối tượng); lập hồ sơ đưa vào Trường giáo dưỡng 07 trẻ em hư (tăng 03 hồ sơ); Giao gia đình giáo dục 08 trẻ em.

  1. Nguyên nhân

* Tội phạm xâm hại trẻ em

– Một số đối tượng có những dục vọng thấp hèn, nhiều đối tượng sử dụng rượu bia và các chất kính thích mất hết tính người, không kiềm chế được bản thân đã thực hiện hành vi cưỡng hiếp trẻ em.

– Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ở nhiều địa bàn chưa được quan tâm đúng mức, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở các vùng đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới chưa được coi trọng. Việc nhận thức về xã hội, pháp luật và kỹ năng tự bảo vệ của các cháu còn hạn chế dễ bị dụ dỗ, lừa gạt trong các vụ mua bán trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em; nhiều vụ xảy ra việc bố dượng cưỡng hiếp con riêng của vợ.

– Một số gia đình do điều kiện kinh tế khó khăn, mải tập trung vào công việc làm ăn kiếm sống mà lơ là thiếu quản lý, chăm sóc con cái, để các cháu gái tự do chơi bời đàn đúm với bạn bè dẫn đến các vụ xâm hại tình dục trẻ em; cũng có trường hợp do gia đình có điều kiện kinh tế đã mua sắm những đồ trang sức đắt tiền như vòng, lắc, hoa tai bằng vàng cho các cháu gái đã tạo điều kiện cho các đối tượng cướp; giết cướp tài sản.

– Một số trẻ em gái sống buông thả, nghiện trò chơi điện tử, Game Online, khi không có tiền chơi thì lên mạng yêu cầu cứu “Net” dẫn đến các vụ dụ dỗ xâm hại tình dục trẻ em…

* Tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên

– Về phía gia đình: Nhiều gia đình đã không quan tâm quản lý giáo dục, hoặc quá nuông chiều con cái, chỉ đáp ứng về vật chất, còn lại phó mặc cho nhà trường và xã hội. Một số gia đình không hạnh phúc bố mẹ ly hôn bỏ mặc con cái hoặc bản thân bố mẹ, anh chị từng vi phạm pháp luật, có hành vi xấu, không làm tấm gương cho con cái, các em noi theo.

– Về phía nhà trường: Chưa chú trọng quan tâm đúng mực công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, việc quản lý học sinh trong một số nhà trường còn lỏng lẻo, kỷ luật học đường chưa nghiêm.

– Về các tổ chức đoàn thể: Chưa thực sự tạo ra phong trào có sức lôi cuốn thu hút được thanh, thiếu niên vào các hoạt động tu dưỡng, rèn luyện bổ ích cho các em nên đối tượng lợi dụng lôi kéo các em tham gia vi phạm pháp luật.

– Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực văn hoá xã hội của các ngành chức năng còn nhiều sơ hở, bất cập, cấp uỷ, chính quyền địa phương một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác quản lý giáo dục, thanh, thiếu niên nên chưa tạo được môi trường lành mạnh cho các em.

– Bản thân nhiều cháu thiếu niên thiếu tu dưỡng rèn luyện, sống buông thả, tham gia chơi bời nghiện chơi điện tử, Game Online có nội dung không lành mạnh, bạo lực, đồi trụy hoặc bị các đối tượng xấu đã thành niên lôi kéo tham gia vào tệ nạn xã hội, trộm cắp tài sản…

  1. Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

– Các bậc cha mẹ cần quan tâm việc chăm sóc các cháu thiếu niên nhất là các cháu gái, không để các cháu ở nhà một mình khi không có người trông nom, thường xuyên giáo dục cho các cháu nâng cao cảnh giác không nghe hoặc tiếp xúc với những người lạ không quen biết, không quan hệ chơi bời với những đối tượng xấu, vi phạm pháp luật, la cà hàng quán, những tụ điểm vui chơi không lành mạnh… Không mua sắm những đồ trang sức đắt tiền cho con cái, giáo dục các cháu khi đi chơi không có người lớn đi cùng thì nên cất đồ trang sức ở nhà nhằm hạn chế, không để các đối tượng xấu thực hiện hành vi phạm tội, lôi kéo con em mình vi phạm pháp luật.

– Gia đình thường xuyên phối hợp với nhà trường kiểm tra việc học hành của con cái, chủ động giám sát không để trẻ em sử dụng các loại Game trực tuyến có nội dung không lành mạnh, bạo lực, đồi trụy.

– Bố mẹ, người thân phải gương mẫu trong việc chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, nghiện ma túy, nghiện rượu và các hành vi bạo lực gia đình, đánh chửi vợ con.

– Các bậc cha mẹ, người thân phải có trách nhiệm giáo dục, nuôi dưỡng con cái để trở thành những công dân có ích cho xã hội trong tương lai.

– Khi phát hiện các trường hợp xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên phải chủ động trình báo với chính quyền địa phương hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.

  1. Xử lý đối với hành vi xâm hại trẻ em

4.1. Hiếp dâm người dưới 16 tuổi: bị phạt tù từ 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Lưu ý: Các trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi đều là hành vi hiếp dâm trẻ em.

4.2. Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4.3. Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4.4. Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 12 năm. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4.5. Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm: bị phạt tù từ 06 tháng đến 12 năm. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chi tiết

Chuyên đề 11: Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

CHUYÊN ĐỀ 11

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

  1. Tình hình hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản

Trong năm qua, hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản trên toàn quốc nói chung, tại địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số vụ và hậu quả thiệt hại. Tội phạm trộm cắp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ phạm pháp hình sự, chúng hoạt động với nhiều thủ đoạn khác nhau và thường xuyên thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động, ngày càng tinh vi xảo quyệt, xâm hại trực tiếp đến tài sản của tổ chức và cá nhân, ảnh hưởng xấu đến TTATXH.

Năm 2015, toàn tỉnh Sơn La xảy ra 322 vụ trộm cắp tài sản (chiếm 38,2% tổng số vụ phạm pháp về TTXH), gây thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 5,2 tỷ đồng (1,18 tỷ đồng tiền mặt, 110 chiếc xe máy; 27 con trâu, bò, ngựa; 33 máy tính; 60 điện thoại di động…). Các lực lượng chức năng đã điều tra, làm rõ 278/322 vụ (đạt tỷ lệ 86%) xử lý 396 đối tượng. Thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng (340 triệu đồng tiền mặt, 71 xe máy; 13 con trâu, bò, ngựa; 18 máy tính; 50 điện thoại di động…).

  1. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản

Tội phạm trộm cắp tài sản hoạt động với nhiều thủ đoạn khác nhau, từ hoạt động đơn lẻ đến cấu kết, hình thành băng, ổ nhóm, đường dây phạm tội từ trộm cắp đến tiêu thụ; đặc biệt là chúng thường lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ tài sản để gây án ngay và nhanh chóng tiêu thụ tài sản; các đối tượng hoạt động chuyên nghiệp còn chuẩn bị công cụ, phương tiện, theo dõi kỹ nơi có tài sản, gây án ở địa bàn này nhưng tiêu thụ ở địa bàn khác để chống lại sự phát hiện, điều tra, xử lý của lực lượng Công an.

Trước khi gây án chúng thường đến thăm dò, nắm tình hình về điều kiện nơi định trộm như: loại tài sản, sự sơ hở thiếu sót trong công tác bảo vệ, hàng rào, cửa, khóa, lối ra vào, đường xá đi lại, quy luật sinh hoạt của cán bộ, nhân dân nơi đối tượng định trộm để chọn thời gian, địa điểm, hình thức thích hợp để gây án. Tuy nhiên cũng có những đối tượng không cần khảo sát thăm dò trước mà đi lang thang sục sạo khi gặp điều kiện thuận lợi thì thực hiện ngay hành vi trộm cắp.

Mục tiêu các đối tượng thường nhằm để trộm cắp là những kho tàng, bến bãi, cửa hàng, cửa hiệu, cơ quan công sở, những gia đình giầu có, những địa bàn có nhiều sơ hở trong quản lý bảo vệ tài sản. Chúng thường tìm trộm những tài sản gọn nhẹ, có giá trị, dễ tiêu thụ như tiền, vàng bạc, đá quý, máy tính, điện thoại, xe máy; các vật nuôi như trâu, bò, ngựa…

Tùy theo từng loại tài sản, đặc điểm cấu trúc nhà cửa và từng địa bàn mà các đối tượng có phương thức, thủ đoạn hoạt động gây án khác nhau, cụ thể:

* Thủ đoạn đột nhập trộm cắp tài sản ở nhà dân, kho tàng, công sở…:

– Các đối tượng trộm thường sử dụng sử dụng kìm cộng lực, vam phá khóa, xà beng, máy cắt, khoan, đèn khò, dũa, tay công, búa… để cắt, vặn bẻ khuy khóa, đập bẻ khóa, cậy cửa, cắt bẻ chấn song cửa sổ, tháo ô cửa kính, ô thông gió, đột nhập vào công sở, nhà dân để trộm cắp tài sản.

– Chúng thường trèo tường, trèo theo ống nước, dây chống sét, qua cây cối sát nhà, bắc thang, chuyền qua các mái nhà tầng…để đột nhập từ các cửa tầng trên, đặc biệt là cửa tum. Có đối tượng còn lợi dụng sơ hở của chủ nhà mà lẻn vào nấp sẵn ở nơi kín trong nhà, kho tàng, cửa hàng… chờ cơ hội như chủ nhà đi vắng hoặc ngủ say để trộm cắp tài sản.

– Quá trình hành động, thủ phạm thường tính sẵn những tình huống bất lợi để đối phó và tẩu thoát, nên sau khi đột nhập vào nơi định trộm chúng thường bố trí gây trở ngại cho việc đuổi bắt của chủ nhà như chèn cửa, khóa trái cửa buồng có người ở, tắt đèn, đặt chướng ngại vật ở lối ra vào…và mở sẵn lối thoát để nếu bị phát hiện thì nhanh chóng thoát ra ngoài, rồi chúng mới tiến hành lục soát, tìm lấy tài sản.

Tại một số nơi, có ổ nhóm chuyên trộm cắp tài sản tại cơ quan, xí nghiệp, kho tàng… sử dụng cả xe ô tô để chở tài sản trộm cắp được, như két bạc, máy tính…

* Thủ đoạn trộm cắp két bạc: Nếu là két bạc loại nhỏ, bọn chúng thường dùng chăn, bao tải bọc lại rồi dùng phương tiện chở đi nơi khác phá két lấy tài sản. Đối với két to nặng (chủ nhà đi vắng, không có người trông coi, nơi gần đó có nhiều tiếng ồn, tiếng động lớn khác) bọn chúng phá tại chỗ bằng các thủ đoạn: dùng đèn khò để phá; dùng máy cắt; dùng xà beng, búa ổ, dao to chặt phá mặt sau của két để lấy tài sản.

* Thủ đoạn trộm cắp xe máy:

– Các đối tượng thường lân la ở các khu trung tâm đông người như bến xe, chợ, cửa hàng… để quan sát, theo dõi và lợi dụng tình trạng xe máy để lộn xộn không có người trông giữ, không khóa hoặc khóa không đảm bảo, thiếu sự trông coi thì chúng nhanh chóng lấy xe mang đi.

– Chúng để xe máy của mình cạnh xe định lấy trộm (hình thức xe của chúng giống xe định lấy trộm) rồi lấy xe đó đi, nếu bị phát hiện thì chúng xin lỗi, nói rằng bị nhầm xe, nếu trộm được thì chúng đàng hoàng quay lại lấy xe của chúng đi.

– Đối tượng lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người dân để xe máy ở sân, dưới gầm sàn nhà qua đêm, cổng khóa không đảm bảo; để dọc tuyến đường khi đi nương rẫy không có người trông coi; để ở vỉa hè trước cửa nhà, nơi khuất tầm nhìn…

– Để phá khóa các loại xe máy chúng sử dụng chìa khóa vạn năng hoặc vam phá khóa hình chữ L hoặc hình chữ T, một đầu đập bẹp để tra vào ổ khóa xoay mạnh để mở. Đối với các loại khóa dây, khóa bằng dây xích, bằng thanh kim loại uốn…chúng dùng kìm cộng lực để cắt, có trường hợp dùng dao, búa để chặt phá khóa rồi lấy xe đi, cũng có trường hợp đối tượng dắt đến nơi khác thuận lợi mới tìm cách mở phá khóa giả vờ như người có xe bị mất chìa khóa rồi đi xe trộm cắp được để chạy trốn và mang đi tiêu thụ.

Những vụ trộm cắp có ổ nhóm thì chúng phân công nhiệm vụ cụ thể như người theo dõi chủ xe, người quan sát, người hành động, người cản đường khi bị phát hiện đuổi bắt.

Sau khi lấy được tài sản chúng thường làm giả giấy tờ để dễ dàng tiêu thụ.

* Thủ đoạn trộm cắp gia súc (trâu, bò, ngựa…):

– Các đối tượng thường móc nối với các đối tượng ở địa phương khác, hình thành đường dây trộm cắp và đưa đi tiêu thụ ở địa phương khác.

– Chúng lợi dụng việc nhân dân thả rông gia súc ở trên đồi rừng, nương rẫy, bãi chăn thả xa nơi ở, thiếu sự quản lý trông coi hoặc gia súc buộc ở chuồng, dưới  sàn nhà không có hàng rào, khóa bảo vệ hoặc có nhưng không đảm bảo an toàn… nên các đối tượng lén lút dắt gia súc đến nơi vắng người qua lại, mổ lấy thịt mang đi tiêu thụ tại các điểm giết mổ, mua bán thịt gia súc mà chúng đã hẹn trước; có những vụ đối tượng chỉ dắt gia súc đi cách nhà bị hại vài trăm mét đã nhanh chóng giết mổ và dùng xe máy chở thịt đi tiêu thụ.

– Đặc biệt trong năm 2015 có nhiều vụ do ổ nhóm đối tượng gây ra, sau khi dắt gia súc đến khu vực an toàn, bọn chúng cho xe ô tô đến chở cả con đến nơi tiêu thụ. Đối tượng tiêu thụ thường nhanh chóng giết mổ để tránh sự truy tìm của bị hại và sự phát hiện của lực lượng chức năng.

– Thời gian thực hiện trộm cắp gia súc chủ yếu xảy ra vào ban đêm lúc mọi người thiếu cảnh giác; cũng có một số vụ trộm gia súc thả rông trên đồi rừng, nương rẫy xa khu dân cư, đối tượng thực hiện cả vào ban ngày.

* Thủ đoạn trộm cắp tiền bằng thẻ ATM

– Thủ đoạn phổ biến là chúng bí mật gắn chíp điện tử hoặc gắn hệ thống Camera ở trong cây ATM để ghi trộm mật khẩu của khách hàng đến rút tiền bằng thẻ ATM, sau đó chúng dùng thẻ giả để rút trộm tiền. Có trường hợp chúng giả là người đến rút tiền và bí mật xem trộm mật khẩu của khách hàng rồi dùng thẻ giả để rút trộm tiền.

– Trên cơ sở nắm được hiện tượng mang tính quy luật của chủ tài sản thường sử dụng tên, ngày tháng năm sinh của mình hoặc của người thân để đặt mật khẩu cho tài khoản của mình để dễ nhớ, từ đó đối tượng trộm cắp dùng thẻ giả dò mở số mật khẩu theo những quy luật trên để rút lấy tiền.

  1. Thời gian, thành phần đối tượng gây án

 * Thời gian gây án:

– Vào ban đêm, đối tượng trộm cắp tài sản thường hoạt động trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 giờ sáng, vì khoảng thời gian này những người thức khuya cũng đã ngủ và người dậy sớm cũng thường chưa dậy, là thời điểm vắng người trông coi bảo vệ tài sản.

– Vào ban ngày, đối với khu tập thể và gia đình riêng, đối tượng thường gây án trong khoảng giờ hành chính khi mọi người đi làm vắng nhà.

* Về thành phần đối tượng phạm tội:

– Độ tuổi các đối tượng trộm cắp tài sản phần lớn ở tuổi từ 18 – 30 tuổi (chiếm khoảng 70%), chủ yếu là nam giới (chiếm 99,6%). Nữ giới chỉ tham gia với vai trò thứ yếu như canh gác hoặc tiêu thụ tài sản.

– Phần lớn là những người không nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định; đối tượng có tiền án, tiền sự về loại tội phạm này; đối tượng nghiện cờ bạc, ma túy… sống lang thang, không nơi ở cố định.

Thời gian gần đây nhiều đối tượng trộm cắp là sinh viên, học sinh các trường đại học, trung học chuyên nghiệp hoạt động có tính chất cơ hội, khi gặp điều kiện thuận lợi là gây án; một số đối tượng có trình độ cao về khoa học công nghệ đã lợi dụng để trộm cắp thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng, trên mạng Internet, trên máy rút tiền tự động ATM.

  1. Biện pháp phòng ngừa

– Đối với các hộ gia đình, cửa hàng, kho tàng, cơ quan, công sở…: Phải nêu cao tinh thần cảnh giác, thực hiện tốt công tác tuần tra bảo vệ khu dân cư, cơ quan, xí nghiệp, công sở; lắp đặt các hệ thống camera, thiết bị báo động chống trộm; hệ thống tường rào, cửa, khóa đảm bảo chắc chắn; cất giữ chìa khóa cửa cẩn thận, nếu bị mất chìa khóa thì phải thay ổ khóa mới đề phòng đối tượng sử dụng chìa đó hoặc in sao ra chìa khác để đột nhập trộm cắp tài sản…

– Đối với xe máy: Phải lắp đặt khóa điện và khóa chống trộm đảm bảo chất lượng; không để chìa khóa điện cắm ở xe khi rời khỏi xe đi nơi khác; khi vào chợ, cửa hàng hoặc khu đông người phải gửi xe tại điểm trông xe tin cậy; không để xe máy qua đêm ở sân nhà, dưới gầm sàn mà hệ thống bảo vệ không đảm bảo; không để xe ở ven đường khi đi nương rẫy mà không có người trông hoặc để xe ở những nơi khuất tầm nhìn…

– Đối với gia súc: Khi chăn thả ở rừng, nương rẫy xa nơi ở phải có người trông coi và đưa về chuồng trại trông giữ sau mỗi ngày; chuồng trại phải có tường, rào và cửa khóa chắc chắn; xung quanh chuồng, cửa chuồng có thể đặt các chuông, mõ để gây tiếng động khi có người đột nhập…

– Rút tiền tại cây ATM: Khi rút tiền tại cây ATM phải có biện pháp bảo mật thông tin, đồng thời đề cao cảnh giác không tiết lộ mật khẩu của mình.

Khi phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động trộm cắp tài sản, mọi công dân phải nêu cao tinh thần cảnh giác, bí mật theo dõi di biến động của chúng, đồng thời bí mật thông tin cho lực lượng bảo vệ, Công an cơ sở nắm, giải quyết. Khi phát hiện các vụ trộm cắp đã xảy ra thì phải giữ nguyên hiện trường và nhanh chóng báo cáo cơ quan Công an để khám nghiệm điều tra; nếu phát hiện đối tượng đang thực hiện hành vi trộm cắp phải tìm cách thông tin, hô hoán mọi người đến tham gia vây bắt đối tượng, truy thu tài sản để xử lý trước pháp luật.

  1. Xử lý hành vi trộm cắp tài sản và vi phạm có liên quan

5.1. Người nào trộm cắp tài sản, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị xử lý hành chính, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm. Ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

5.2. Người nào mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 15 năm. Ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chi tiết

Chuyên đề 12: Tình hình và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm liên quan đến hoạt động tín dụng đen

CHUYÊN ĐỀ 12

TÌNH HÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

TỘI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐEN

  1. Tình hình

Những năm gần đây tình hình vay mượn tiền, tài sản ngoài hệ thống tín dụng ngân hàng kiểu “tín dụng đen” (là hình thức tín dụng tư nhân hoạt động giao dịch ngầm, nằm ngoài hoạt động của các tổ chức tín dụng, tự thỏa thuận giữa con nợ và chủ nợ không được chứng thực; cho vay với lãi xuất rất cao, cao hơn lãi xuất Ngân hàng từ 3 – 20 lần) diễn biến phức tạp, nhiều trường hợp cho người khác vay số tiền lớn với lãi xuất cao, nhưng do làm ăn thua lỗ và phải trả lãi xuất cao dẫn đến con nợ bị vỡ nợ không có khả năng thanh toán thì chủ nợ gây áp lực để xiết nợ hoặc với nhiều lý do con nợ đã dùng thủ đoạn gian rối để chiếm đoạt tiền, tài sản đã vay mượn rồi bỏ trốn… dẫn đến cách thức đòi nợ trái pháp luật như cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích thậm chí gây ra vụ án giết người, việc điều tra và xử lý các đối tượng gặp nhiều khó khăn.

Hầu hết các vụ vỡ nợ trong những năm qua đều có nguồn gốc từ giao dịch vay mượn, huy động góp vốn đầu tư vào các dự án kinh doanh hấp dẫn, hứa hẹn trả lãi suất cao… diễn ra từ nhiều năm trước đó. Trong những năm qua tại địa bàn trong tỉnh xảy ra nhiều vụ vỡ nợ lớn, nhỏ, số tiền các con nợ chiếm đoạt không có khả năng thanh toán hàng trăm tỷ đồng, đã trực tiếp tác động đến những cá nhân huy động tiền, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế cho rất nhiều gia đình, làm ảnh hưởng đến quan hệ anh em, họ hàng, làng xóm; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm như: Giết người, cố ý gây thương tích, cướp, cưỡng đoạt, hủy hoại, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật, gây rối TTCC… ảnh hưởng xấu đến tình hình ANTT tại địa phương.

– Tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hạt động tín dụng đen xảy ra ở nhiều địa bàn trong tỉnh, từ thành thị đến nông thôn; nạn nhân của tội phạm liên quan đến tín dụng đen cũng rất đa dạng, ở nhiều lứa tuổi, trình độ học vấn, tính chất công việc khác nhau; nhiều người với vai trò trung gian huy động, cho vay vốn với lãi xuất cao, vừa là nạn nhân, vừa là đối tượng tham gia thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

  1. Phương thức, thủ đoạn

– Thủ đoạn của đối tượng cho vay tín dụng đen thường không ghi mức lãi xuất hoặc có ghi nhưng với mức thấp hơn so với thực tế mức lãi xuất cho vay; thành phần cho vay tín dụng đen rất đa dạng, có cả cán bộ, công nhân viên chức, người buôn bán, người về hưu…

+ Một số trường hợp núp bóng các doanh nghiệp, dịch vụ cầm đồ… để thực hiện hành vi cho vay nặng lãi, với thủ đoạn phổ biến là ban đầu cho vay tín chấp với số tiền lớn, sau một thời gian người vay không có khả năng trả hoặc trả chậm thì sẽ ép làm hợp đồng thế chấp tài sản, bán nhà, bán đất hoặc vay số tiền lớn hơn thực tế. Hoặc tài sản của người vay mang đến thế chấp, chủ nợ ghi thành giấy bán tài sản, bán nhà, đất cho chủ nợ, khi người vay không có khả năng trả hoặc trả chậm thì chủ nợ sẽ chiếm đoạt luôn tài sản, nhà, đất đó của người vay.

+ Đáng chú ý là các nhóm đối tượng chuyên cho vay nặng lãi được tổ chức chặt chẽ, có sự tham gia của các đối tượng hình sự nguy hiểm, các đối tượng có tiền án, tiền sự, côn đồ hung hãn, hình thành các băng nhóm cho vay nặng lãi, chúng sẵn sàng dùng các thủ đoạn tàn ác, trái pháp luật với con nợ và gia đình họ để thu hồi các khoản tiền lãi và nợ gốc.

– Thủ đoạn phổ biến của đối tượng vay, huy động tiền, tài sản vẫn là tạo vỏ bọc sang trọng, giầu có, có uy tín trong kinh doanh… nhằm đánh bóng cho thương hiệu; thường xuyên biếu xén quà cáp đắt tiền, quan tâm đến gia đình người cho vay, giả làm từ thiện… để lấy lòng tin của người cho vay, đối tượng trả tiền lãi xuất cao đều đặn và uy tín trong thời gian đầu, sau đó vay tiền của người sau trả lãi xuất cho người vay trước theo hình thức vòng quanh; họ tìm mọi cách che đậy mục đích vay tiền và cố gắng thu hút sự tham gia của nhiều người càng tốt, đến khi lượng tiền đi vay đã hết do làm ăn thua lỗ hoặc vì lý do khác đối tượng tuyên bố phá sản hoặc vỡ nợ nhằm trốn tránh pháp luật và người cho vay.

– Đối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân như Giám đốc công ty, lãnh đạo các tổ chức, lấy danh nghĩa đầu tư cho các dự án, vẽ ra viễn cảnh kinh doanh thành đạt làm cho người khác tin mà cho vay tiền, tài sản hoặc tham gia góp vốn.

– Trước khi bỏ trốn hoặc tuyên bố vỡ nợ, các con nợ thường tìm mọi cách để tẩu tán hoặc che giấu tài sản đã chiếm đoạt như bán, chuyển nhượng tài sản cho người khác, gửi tiền vào ngân hàng… chúng tìm cách chiếm đoạt tài sản đến cùng trước và trong khi hành vi phạm tội bị phát giác.

  1. Nguyên nhân và điều kiện phát triển “Tín dụng đen”

– Do hám lời với lãi xuất cao nên người cho vay đã huy động một lượng tiền lớn của bản thân, gia đình, vay ngân hàng và nhiều người thân để cho vay; một số người đi vay về cho người khác vay lại để kiếm lời, khi vụ việc vỡ nợ họ vừa là con nợ vừa là chủ nợ.

– Do loại hình cho vay này không cần nhiều thủ tục, không cần khai báo mục đích vay, thậm chí không cần thế chấp tài sản để đảm bảo, chỉ cần một hợp đồng vay tiền viết sơ sài đã vay được số tiền lớn.

– Do vay vốn của Ngân hàng để đầu tư kinh doanh, nhưng bị thua lỗ cụt vốn nên con nợ đã vay ngoài với lãi xuất cao để giải quyết khoản nợ Ngân hàng và trả vòng quanh, cứ thế lãi mẹ đẻ lãi con.

– Công tác tuyên truyền, phòng ngừa liên quan đến vay mượn tiền, tài sản theo kiểu “Tín dụng đen” cũng như phương thức thủ đoạn huy động vốn chưa được tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân, đến khi xảy ra các vụ vỡ nợ thì người cho vay mới biết thủ đoạn của đối tượng.

– Một số trường hợp vay tiền sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, chơi bời… dẫn đến cụt vốn phải vay tiền lãi xuất cao để trả vòng quanh.

– Công tác nắm tình hình của lực lượng Công an cơ sở còn hạn chế, chưa chủ động phát hiện các dấu hiệu phạm tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay nặng lãi, đến khi có đơn tố giác của công dân mới phát hiện và điều tra xác minh.

  1. Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

– Quần chúng nhân dân phải nêu cao tinh thần cảnh giác, trước khi cho người khác vay mượn số tiền lớn cần phải tìm hiểu kỹ về nhân thân, mục đích vay, điều kiện kinh tế của họ, đáng tin cậy thì mới cho vay và yêu cầu phải có tài sản, vật có giá trị thế chấp, hợp đồng vay mượn phải rõ ràng chặt chẽ, đặc biệt là không hán lợi trước những đối tượng hứa hẹn trả lãi xuất cao bất thường.

– Khi phát hiện đối tượng cho vay nặng lãi hoặc đối tượng vay tiền, huy động vốn có dấu hiệu lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì chủ động báo cáo cơ quan Công an nắm để kịp thời xử lý.

– Lực lượng Công an cơ sở tăng cường công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và thu thập tài liệu để xử lý hoạt động của các đối tượng vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng đen.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân hiểu biết các quy định của pháp luật về giao dịch vay mượn, huy động vốn an toàn cũng như các phương thức thủ đoạn dụ dỗ vay mượn tiền, tài sản, huy động góp vốn của các đối tượng để phòng tránh và tham gia tố giác tội phạm.

Chi tiết

Chuyên đề 13: Tình hình và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc, mại dâm

CHUYÊN ĐỀ 13

TÌNH HÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN TỆ NẠN CỜ BẠC, MẠI DÂM

  1. Tình hình

Tệ nạn cờ bạc, mại dâm trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm gần đây tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, các đối tượng hoạt động đa dạng; phương thức thủ đoạn hoạt động luôn thay đổi và ngày càng tinh vi hơn, gây khó khăn cho việc phát hiện, bắt giữ và xử lý của lực lượng chức năng.

* Tệ nạn cờ bạc: Trong năm 2015, lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt xử lý 214 vụ, 901 đối tượng (tăng 21 vụ, 79  đối tượng so với năm 2014). Tang vật thu giữ: trên 633 triệu đồng; 75 bảng lô đề, 94 cáp lô đề, 06 máy bắn cá, 02 máy xèng cùng nhiều tang vật khác. Khởi tố 77 vụ 309 bị can; xử phạt hành chính 133 vụ, 569 đối tượng = 666.600.000 VNĐ; đang chờ xử lý 04 vụ 23 đối tượng.

* Tệ nạn mại dâm: Năm 2015 lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt xử lý 15 vụ, 62 đối tượng (tăng 02 vụ, 01 đối tượng so với năm 2014). Đã khởi tố 13 vụ, 13 bị can; xử lý hành chính 02 vụ, 49 đối tượng = 21.200.000 VNĐ.

  1. Đặc điểm, phương thức, thủ đoạn hoạt động

* Đối với hoạt động cờ bạc:

– Một số loại hình đánh bạc phổ biến là đánh xóc đĩa, đánh ba cây, đánh tá lả, đánh sâm, đánh chắn… và cá độ bóng đá trên mạng cũng đang có chiều hướng tăng, nhất là tại các địa bàn thành phố, thị trấn. Do phương thức của loại hình cá độ bóng đá liên quan đến nhiều đối tượng ở nhiều địa phương tham gia hoạt động qua mạng Internet, việc thanh toán tiền không diễn ra trực tiếp mà chúng giao hẹn địa điểm, thời gian thanh toán kín đáo, bí mật, nên việc phát hiện, bắt giữ để xử lý gặp nhiều khó khăn.

– Tội phạm đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề có chiều hướng gia tăng, các đối tượng hoạt động ở các nơi trên địa bàn toàn tỉnh, từ thành phố, thị trấn đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa; các đối tượng thường lợi dụng việc hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết mở đại lý bán vé xổ số, vé lô tô để bán số lô, số đề. Phương thức thủ đoạn hoạt động của các đối tượng cũng rất tinh vi như: Sử dụng điện thoại di động để gọi trao đổi hoặc nhắn tin mua bán số lô, số đề; chúng chỉ bán số lô, số đề cho người quen biết, không cần ghi cáp đề, nếu có cáp thì trá hình dưới hình thức bán vé lô tô hoặc cho người mua tự ghi vào cáp lô đề của mình mua; các thư ký lô đề chuyển bảng tổng hợp cho chủ đề cũng rất tinh vi dưới nhiều hình thức khác nhau như chuyển trực tiếp, chuyển qua điện thoại di động, máy Fax, Email máy vi tính… gây khó khăn cho việc phát hiện, bắt giữ.

– Các đối tượng đánh bạc chuyên nghiệp như đánh xóc đĩa, đánh ba cây, tá lả, đánh sâm, đánh chắn… thường tổ chức đánh ở những nhà xây kiên cố, nhà cao tầng mà lực lượng chức năng khó đột nhập hoặc tổ chức đánh ở những vùng đất trống dễ quan sát từ xa, vùng đồi núi xa dân cư ít người qua lại. Chúng phân công lực lượng canh gác để kịp thời báo tin khi phát hiện lực lượng Công an đến.

– Các đối tượng thường xuyên thay đổi địa điểm tổ chức đánh bạc nhằm tránh sự chú ý của nhân dân và tránh sự phát hiện, bắt giữ của cơ quan chức năng.

– Thời gian đánh bạc vào tất cả các mùa trong năm và bất kỳ các giờ trong ngày, trong đó vào những dịp lễ, tết và các mùa thu hoạch nông sản như ngô, cà phê thì hoạt động đánh bạc có chiều hướng gia tăng và phức tạp hơn.

* Đối với hoạt động mại dâm:

– Tội phạm liên quan đến tệ nạn mại dâm hoạt động ngày càng tinh vi, thủ đoạn hoạt động mại dâm trá hình dưới nhiều hình thức khác nhau, địa bàn hoạt động chủ yếu tập trung ở thành phố, thị trấn, thị tứ, nơi tập trung đông dân cư, chúng thường núp dưới danh nghĩa hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, quán cà phê karaoke đèn mờ, cơ sở xông hơi massage tầm quất, quán bán hàng ăn, cắt tóc gội đầu…để làm nơi hoạt động mua, bán dâm.

– Các đối tượng chủ chứa và môi giới dẫn dắt mại dâm thường không trực tiếp đứng ra thỏa thuận và nhận tiền với khách mua dâm, mà chúng giữa chủ chứa, người môi giới với gái bán dâm có sự bàn bạc thỏa thuận, khi khách có nhu cầu mua dâm thì gái bán dâm sẽ tự đặt vấn đề với khách từ việc thỏa thuận giá cả, thu tiền và địa điểm mua bán dâm…nên việc bắt giữ và xử lý đối tượng chứa chấp và môi giới mại dâm gặp khó khăn.

– Ngoài ra có một số học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp hoạt động bán dâm cho khách tại một số khách sạn, nhà nghỉ với phương thức thủ đoạn khi khách có nhu cầu mua dâm thì chủ khách sạn, nhà nghỉ (hoặc lễ tân) là chủ chứa hoặc môi giới gọi điện cho sinh viên bán dâm đi taxi đến, bán dâm xong xe đưa về, mọi hoạt động giao dịch đều qua điện thoại và diễn ra nhanh, hoạt động theo hình thức “gái gọi”, việc bắt giữ và xử lý đối tượng chứa chấp và môi giới mại dâm gặp khó khăn.

  1. Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc, mại dâm

– Mỗi người dân cần có nhận thức đúng đắn về hậu quả, tác hại của tệ nạn cờ bạc, mại dâm từ đó nâng cao ý thức quản lý, giáo dục người thân không tham gia tệ nạn cờ bạc, mại dâm; tích cực tham gia phát giác, tố giác những đối tượng, tụ điểm, ổ nhóm hoạt động cờ bạc, mại dâm trên địa bàn.

– Cấp uỷ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền; tăng cường công tác phòng ngừa, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng có biểu hiện hoạt động cờ bạc, mại dâm, chú trọng quản lý, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện về an ninh trật tự, kịp thời phát hiện và đấu tranh triệt phá các tụ điểm hoạt động tệ nạn cờ bạc, mại dâm phức tạp không để hoạt động kéo dài, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

  1. Hình thức xử lý đối với hành vi đánh bạc và mại dâm

4.1. Hành vi đánh bạc:

– Nếu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.

– Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, sẽ bị xử lý hành chính, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Riêng đối với hành vi mua số lô, số đề, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.

4.2. Hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc:

– Nếu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tiền từ 50.000.000 đ đến 300.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc phạt tù 01 năm đến 10 năm.

– Trường hợp tổ chức đánh bạc, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Nếu tổ cjhức đánh đề mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

– Trường hợp thực hiện hành vi gá bạc, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

4.3. Tội chứa mại dâm: bị phạt tù từ 01 năm đến chung thân, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 1 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4.4. Tội môi giới mại dâm: bị phạt tù từ 06 tháng đến 15 năm, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ.

4.5. Tội mua dâm người dưới 18 tuổi: bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm;  người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

4.7. Hành vi mua dâm: bị phạt tiền từ 500.000đ đến 5.000.000đ.

4.8. Hành vi bán dâm: Bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000đ đến 500.000đ.

4.9. Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm: Bị phạt tiền từ 15.000.000đ đến 30.000.000đ. người vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh trong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng.

Chi tiết

Chuyên đề 14: Nhận thức chung về ma túy

CHUYÊN ĐỀ 14

NHẬN THỨC CHUNG VỀ MA TÚY

  1. Khái niệm: Ma túy là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi thâm nhập vào cơ thể con người sẽ tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây ra những biến đổi về tâm sinh lý, thể chất, làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó và gây ra những hậu quả nguy hiểm cho người sử dụng và cộng đồng.
  2. Phân loại các chất ma túy

2.1. Phân loại theo nguồn gốc sản xuất:

– Các chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên: là những chế phẩm từ một số cây như: thuốc phiện, co ca, cần sa… có tác dụng kích thích hoặc gây ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

– Các chất ma túy tổng hợp: là những chất được điều chế từ các hóa chất, tiền chất có tác dụng an thần, kích thích hoặc ức chế thần kinh và gây ảo giác nhưng có tác dụng mạnh hơn, có độc tính cao hơn các chất ma túy tự nhiên, một số loại ma túy loại này như: Amphetamin, LSD, Diazepam, seduxen…

2.2. Phân loại theo tác dụng đối với tâm sinh lý người sử dụng:

– Nhóm chất ma túy an thần: Các chất ma túy thuộc nhóm này có đặc tính khi đưa chúng vào cơ thể con người sẽ tác động lên hệ thần kinh trung ương làm cho người sử dụng an thần, gây mê, có cảm giác thư giãn, giảm đau, chống co giật. Như: Diazepam, Bzozepam, Camazepam…

– Nhóm các chất ma túy gây kich thích: Khi chất ma túy đưa vào cơ thể con người sẽ tác động lên hệ thần kinh trung ương làm cho quá trình hoạt động của hệ thần kinh vận động tăng lên, có cảm giác về sức mạnh và tạo cảm giác sảng khoái giả tạo, người nghiện sẽ rơi vào tình trạng có thể làm bất cứ điều gì trong tình trạng vô thức do tác động kích thích. Các chất kích thích còn được gọi là Doping, như: Cocain, Crack, Amphetamin, Methaphetamin…

– Nhóm các chất ma túy gây ảo giác: Thường được dùng trong y học để điều trị bệnh rối loạn thần kinh. Có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là tác dụng lên thị giác, khiến người sử dụng rơi vào tình trạng thần kinh hưng phấn, huyền ảo, bị kích thích, cuồng nhiệt và dễ bị kích động thực hiện các hành động. Ma túy dạng này như: Cần sa, Messcalin….

2.3. Phân loại dựa vào đặc tính mức độ tác động của chất gây nghiện và khả năng lạm dụng chất ma túy:

– Nhóm ma túy có hiệu lực cao hay ma túy mạnh: là những chất ma túy có độc tính cao, có hoạt tính sinh học mạnh, gây nhiều nguy hiểm cho người sử dụng, Khi đưa chất ma túy thuộc nhóm này vào cơ thể, người nghiện sẽ có phản ứng dược lý mạnh, gây sốc nguy hiểm cho tính mạng người nghiện. Một số chất thuộc nhóm này như: Heroin, cocain, Morphin…

– Nhóm ma túy có hiệu lực thấp hay ma túy loại nhẹ: Là những chất ma túy có độc tính thấp hơn, mức độ hoạt tính sinh học thấp, thường là những chất ma túy an thần. Khi đưa chất ma túy thuộc nhóm này vào cơ thể, người nghiện có cảm giác êm dịu, đê mê. Điển hình cho nhóm này như: Seduxen, Diazepam, các loại thuốc an thần…

Ngoài ra còn có các cách phân loại theo danh mục kiểm soát quốc tế hoặc phân loại dựa theo đặc điểm cấu trúc hóa học của các chất ma túy…

  1. Một số loại ma tuý phổ biến

3.1. Thuốc phiện (Anh túc)

Cây thuốc phiện (cây Anh túc) là loại cây thân cỏ, thân thẳng đứng, cao từ 1 – 1,5m, mọc ở nơi khí hậu mát, thích hợp với đất sét vôi. Nó có từ 8 – 12 nhánh phụ, mỗi nhánh có 1 bông hoa nhiều màu sắc, từ hoa sinh ra quả. Nhựa từ quả gọi là thuốc phiện sống.

Nhựa thuốc phiện thường dùng để hút. Lúc đầu hút vào thấy có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng phấn, làm giảm đau nhức, mệt mỏi. Nhưng càng hút thì càng ngày càng phải tăng liều mới đạt được cảm giác như lần trước. Dần dần người hút bị suy sụp, mất hết nghị lực, ý chí và cả cảm giác không còn. Hơn thế, ở người sử dụng ma tuý hút thuốc phiện còn xuất hiện các biến chứng như: viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính, táo bón dai dẳng, phát ban ngoài da, tiểu tiện ra abumin, thường hay bị sưng phổi, mạch đập chậm và không đều. Nguy hiểm hơn là khi không có thuốc, người sử dụng ma tuý phải nạo xái trong ống thuốc ra để hút, hút xái độc hơn vì nó có khoảng 80 – 90% chất morphin.

3.2. Mooc phin (Morphin)

Là chất được dùng làm chất giảm đau và nguyên liệu bán tổng hợp để sản xuất thuốc trị ho, giảm đau, ỉa chảy… trong y học. Morphin có tác dụng chọn lọc và trực tiếp tới tế bào thần kinh trung ương, nhất là vỏ não làm cho thần kinh trung ương bị ức chế (như trung tâm đau, trung tâm hô hấp, trung tam gây ho) và một số trung tâm bị kích thích gây nôn, co đồng tử, chậm nhịp tim…

Với liều điều trị Morphin làm tăng trí tưởng tượng, mất buồn rầu, mất sợ hãi, tạo trạng thái lạc quan, nhìn màu sắc thấy đẹp, nghe tiếng động thấy dễ chịu, mất cảm giác đói. Liều cao Morphin làm hạ huyết áp, làm giảm dịch tiết, lại ra mồ hôi nhiều.

Người sử dụng Morphin có mắt bị phù, móng tay và môi thâm tím; bị rối loạn tâm lý, nói không thật, lười biếng, ít chú ý đến vệ sinh thân thể, thường hay ngáp vặt, co đồng tử, thiếu máu, chán ăn nên sút cân, mất ngủ, già trước tuổi, nôn, vã mồ hôi, chảy nước mắt, đau thắt ngực, trầm cảm, thầm kinh bị kích thích. Sau khi tiêm vào cơ thể khoảng 24 giờ thì 85 – 90% lượng Mor phin được thải ra từ cơ thể theo nước tiểu.

Phụ nữ có thai dùng Morphin rất nguy hiểm, gây tác hại lâu dài đến sự trưởng thành của trẻ như đẻ non, suy dinh dưỡng, rối loạn hành vi, nôn, mất ngủ, đi lỏng… Morphin rất nguy hiểm với trẻ em dưới 5 tuổi. Nó có thể dẫn đến trẻ bị gù, vẹo, thương tổn đầu sọ, hen phế quản, thận và bệnh mãn tính…

3.3. Heroin: Thường được chế biến thành 02 loại: Loại bột trắng hồng, xốp như bông gọi là ” Heroin 4″ (còn gọi là bạch phiến) dùng để chích vào tĩnh mạch. Loại bột màu nâu hồng gọi là ” Heroin 3″ dùng để hút, hít. Dùng Heroin lần đầu sẽ có cảm giác mơ màng, khoan khoái, quên mọi khổ đau, sầu não, bi thương… Nhưng khi cơn nghiện đến mà không có Heroin người sẽ bị đau co thắt. Nếu dùng quá liều Heroin thì người sẽ bị tê liệt thần kinh, hôn mê và có thể chết sau vài phút. Nghiện Heroin làm cho con người thay đổi về tính cách, trở nên cô độc, thù ghét đồng loại, mất khả năng sinh dục; dễ gây ra các hành vi vi phạm pháp luật.

3.4 Cần sa: Còn gọi là cây Gai dầu, cây Gai mèo, cây Đai ma, Bồ đà… Trong y hoc, Cần sa còn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ. Người ta sau khi hút cần sa thường có những thay đổi tâm lý đột ngột như: cười to lên hoặc khóc than vãn, hoặc có nhiều hành vi vô nghĩa khác. Cần sa còn làm cho con người ta có những ảo giác khác thường và cả những cơn ác mộng. Sau những ảo giác, ác mộng đó là sự mệt mỏi, buồn ngủ nhưng giấc ngủ chập chờn và cũng đầy ác mộng. Do vậy nếu sử dụng lâu, người sẽ trở nên gầy gò ốm yếu, ủ dột, có thể loạn thần kinh…

3.5. Ma tuý tổng hợp 

Là chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học toàn phần từ các hoá chất (được gọi là tiền chất). Điển hình là amphetamine. Nhìn chung, các chất ma tuý tổng hợp có tác dụng kích thích mạnh và nhanh hơn các chất ma tuý tự nhiên và bán tổng hợp. Chúng có tác dụng kích thích nhất thời hệ thống thần kinh trung ương gây hưng phấn và ảo giác hoang tưởng. Do vậy chúng còn gọi là “các chất loạn thần”, “ma tuý điên”, ” ma tuý bạo lực”. Hiện nay các chất ma tuý này được coi là những chất ma tuý nguy hiểm nhất.

Những năm gần đây nước ta đã xuất hiện các chất ma tuý tổng hợp rất nguy hiểm, đặc biệt là các chất ma tuý kích thích dạng amphetamine (viết tắt là ATS-amphetamine-type- stimulans) có xu hướng gia tăng rất mạnh. Các chất ma tuý thuộc nhóm ATS như amphetamine, methamphetamine, MDMA (3, 4 methylenedioxymethaphetamine, còn gọi là Ecstasy) đều có thể được hấp thụ qua đường tiêu hoá, sau 24 giờ thì khoảng 70 – 90% được bài tiết qua nước tiểu và được bài tiết gần hết sau 2 – 3 ngày.

Nếu dùng ATS thời gian dài sẽ gây nghiện. Người sử dụng ATS thường thiếu ngủ, chán ăn, đánh trống ngực, chóng mặt và các dấu hiệu cường giao cảm như: tăng huyết áp, tăng thân nhiệt và rối loạn tâm thần, rối loạn nội tiết, rối loạn tâm sinh lý và nhiều chức năng khác của cơ thể. Dùng ATS liều cao có thể sử dụng bằng nhiều hình thức như tiêm chích, hút, hít… Nhưng hiện nay, hình thức sử dụng ATS phổ biến nhất là dạng thuốc viên (như viên nhộng, viên nén) có kích thước, màu sắc, kí hiệu khác nhau.

  1. Chiều hướng phát triển của ma tuý trên địa bàn tỉnh Sơn La

Sau một thời gian dài ngự trị của thuốc phiện, hêrôin, ma tuý tổng hợp được du nhập vào nước ta từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, lúc đầu là những viên hồng phiến với giá vài chục nghìn đồng; tiếp đến là các loại có dạng viên (nén hoặc nhộng) gọi chung là “thuốc lắc“. Sau đó xuất hiện các chất dạng nước, bột, tinh thể (đá, ke) nước như hiện nay. Đối tượng sử dụng loại ma túy này không chỉ là những người nghiện, người lang thang vất vưởng mà cả những người trông có vẻ đàng hoàng, thậm chí trông có vẻ sang trọng lịch sự; ngoài học sinh – sinh viên còn có cả giới văn nghệ sĩ, trí thức và cả các vận động viên thể thao…nhiều người trước đây sử dụng các loại ma túy khác, nay sử dụng ma tuý tổng hợp thì không muốn sử dụng các loại ma túy trước đây nữa; ma tuý tổng hợp đang dần thay thế các loại ma túy truyền thống là thuốc phiện và Hêrôin.

Khi sử dụng loại ma túy này người sử dụng không dễ dàng nhận ra vì nó không có triệu chứng vật vã, đau khớp như dùng Hêrôin; không gây hội chứng cai về cơ thể nhưng người nghiện lại bị lệ thuộc về mặt tâm thần; nó ngấm vào cơ thể nhẹ nhàng đến nỗi chính bản thân người dùng cũng không hề biết mình đã nghiện, nhưng nó đưa nhanh đến các rối loạn dẫn đến các tế bào thần kinh bị tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng, phá hủy nhân cách, hành vi của con người. Sau đó người sử dụng rơi vào tình trạng kiệt sức, mau quên, tâm thần bất loạn và kết cục là làm băng hoại về thân thể họ và giống nòi.

Thời gian gần đây, trên địa bàn Sơn La đã xuất hiện loại ma tuý tổng hợp dạng đá, là loại ma tuý tổng hợp mới, được sản xuất bằng phương pháp thủ công, chiết xuất từ các nguồn thuốc tân dược thông thường như Paracetamol, Tippi… sau đó tổng hợp lại và qua một số phản ứng hóa học tạo thành ma tuý tổng hợp. Đối tượng sử dụng loại ma túy này chủ yếu thuộc độ tuổi thanh, thiếu niên và thường tụ tập sử dụng đông người, gắn với nghe nhạc tại các khách sạn, nhà nghỉ. Hành vi sử dụng ma túy đá đã và đang diễn ra ở các thành phố lớn và đang có xu hướng lan ra diện rộng, nhất là các địa bàn có số lượng đối tượng nghiện ma túy lớn, bản thân đối tượng sử dụng loại ma túy này có nhận thức coi đó không phải là sử dụng trái phép chất ma túy, không nhận thức hết được tác hại do chất ma túy đó gây ra đối với cơ thể; nghiễm nhiên sử dụng tạo nên một trào lưu, xu thế tiêu cực trong thanh, thiếu niên…

  1. Hậu quả, tác hại của ma túy

5.1. Tác hại đối với cơ thể

 Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột. Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản… Theo một số công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ, đã cho thấy có mối liên quan giữa hút ma túy (nhất là cocaine) và ung thư phổi.

– Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp.

– Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quị…

– Đối với hệ sinh dục: Không như người ta thường lầm tưởng, dùng ma túy sẽ làm tăng khả năng tình dục. Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ bị chứng vú to (gynecomastia) và bất lực. Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.

Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị…

5.2. Ảnh hưởng đến bản thân 

– Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết.

– Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút. Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là  HIV (dẫn đến cái chết).  Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam. Người nghiện ma tuý có thể mang vi rút HIV và lây truyền cho vợ/bạn tình và con cái họ.

– Thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật.

– Mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình.

– Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm.

– Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.

5.3. Ảnh hưởng đến gia đình 

– Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình. Nhu cầu cần tiền để mua ma tuý của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 200.000-300.000,đ thậm chí 1.000.000 – 2.000.000đ/ ngày, vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma tuý có thể  tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sử dụng ma tuý, nhiều người đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí giết người, cướp của.

– Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm,  ăn không ngon, ngủ không yên…vì trong gia đình có người nghiện)

– Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc…)

– Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra.

5.4. Ảnh hưởng đến xã hội 

– Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm…

– Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội. Tăng chi phí ngân sách  xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại. Ma tuý còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa).

– Ảnh hưởng đến giống nòi, huỷ diệt giống nòi: do các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.

  1. Hình thức xử lý đối với tội phạm và tệ nạn ma tuý

6.1. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy: bị phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm; có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

6.2. Tội sản xuất, mua bán hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 02 năm đến chung thân hoặc tử hình. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6.3. Tội tàng trữ hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 01 năm đến chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

6.4. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 02 năm đến chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

6.5. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 02 năm đến 15 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

6.6. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 02 năm đến tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

6.7. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy: bị phạt tù từ 01 năm đến tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

6.8. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần: bị phạt tù từ 01 năm đến 10 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

6.9. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý: bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Chi tiết

Chuyên đề 15: Tình hình người nghiện ma túy và công tác cai nghiện ma tuý

CHUYÊN ĐỀ 15

TÌNH HÌNH NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY VÀ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TUÝ

  1. Tình hình người nghiện ma túy

Mặc dù công tác cai nghiện ma tuý đã được đẩy mạnh thực hiện tuy nhiên, do các quy định của nhà nước về công tác cai nghiện ma tuý có sự thay đổi cơ bản, khó triển khai thực hiện, nên trong năm 2015, tình hình người nghiện ma túy trên địa bàn Sơn La tiếp tục diễn biến phức tạp, tính đến ngày 15/02/2016, theo số liệu thống kê của Công an các huyện, thành phố, toàn tỉnh có 8.140 người nghiện ma tuý, tăng 347 người so với tháng 01/2015 (7.793 người). Nguyên nhân chính là do số người nghiện ma tuý hiện còn trong danh sách quản lý chủ yếu là những người nghiện ma tuý lâu năm, đã qua cai nghiện nhiều lần, khó từ bỏ ma tuý; trên địa bàn tỉnh vẫn phát sinh người nghiện mới, tuy không nhiều; thời gian qua, một số huyện, thành phố không thực hiện việc rà soát, loại bỏ những người đủ điều kiện ra khỏi danh sách quản lý.

  1. Các biện pháp cai nghiện ma túy đang thực hiện

Hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng, địa bàn cả nước nói chung, đang thực hiện các biện pháp cai nghiện ma tuý, quản lý người nghiện ma tuý sau cai như sau:

2.1. Cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng: áp dụng đối với trường hợp người nghiện ma túy đăng ký tự nguyện cai nghiện.

Hồ sơ đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, bao gồm:

  1. a) Đơn đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình của gia đình, người giám hộ hoặc của bản thân người nghiện ma túy. Nội dung đơn bao gồm: tình trạng nghiện ma túy; các hình thức cai nghiện ma túy đã tham gia; tình trạng sức khỏe; cam kết tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng.
  2. b) Bản sơ yếu lý lịch của người nghiện ma túy.
  3. c) Kế hoạch cai nghiện cá nhân của người nghiện ma túy (đối với cai nghiện tại gia đình).

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người nghiện ma tuý cư trú ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma tuý tại gia đình, cộng đồng. Thời gian cai nghiện tại cộng đồng là 12 tháng (hỗ trợ cắt cơn 10 ngày).

2.2. Cai nghiện ma tuý tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma tuý:

 Áp dụng đối với tất cả người nghiện ma túy, người nghiện phải thanh toán một phần chi phí điều trị cho các cơ sở cai nghiện.

Đối với mỗi cơ sở cai nghiện, hồ sơ quy định khác nhau. Nhưng đều phải có Đơn xin tự nguyện cai nghiện ma túy và Hợp đồng tự nguyện cai nghiện ma túy.

Thời gian cai nghiện tùy thuộc vào hợp đồng, khi hết hạn hợp đồng, gia đình và người cai nghiện ma túy có thể thanh lý hoặc gia hạn hợp đồng.

2.3. Cai nghiện ma tuý tự nguyện bằng liệu pháp methadone: Áp dụng đối với người nghiện các chất dạng thuốc phiện, có nơi cư trú rõ ràng và tự nguyện tham gia điều trị (đối với người dưới 16 tuổi phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người đại diện hợp pháp bằng văn bản). Đây là một liệu pháp sử dụng thuốc bằng đường uống, hàng ngày người nghiện đến cơ sở điều trị Methadone trên địa bàn để nhận thuốc. Hồ sơ đăng ký với cơ sở điều trị methadone trên địa bàn, bao gồm:

  1. a) Đơn đăng ký tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện theo mẫu.
  2. b) Bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau: Chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy khai sinh hoặc hộ khẩu.

Để được tư vấn về điều trị cai nghiện ma túy bằng liệu pháp methadone, người nghiện hoặc gia đình liên hệ số điện thoại 0223.799.399 hoặc 0223.799.499

2.4. Cai nghiện ma tuý bắt buộc tại gia đình, cộng đồng: áp dụng đối với người nghiện ma túy cư trú tại cộng đồng nhưng không tự giác khai báo và không tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình hoặc cộng đồng. Thời gian cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng là 24 tháng.

Trưởng Công an xã, phường, thị trấn chủ trì, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. Hồ sơ gồm:

  1. a) Bản sơ yếu lý lịch của người nghiện ma túy;
  2. b) Biên bản hoặc các tài liệu xác nhận tình trạng nghiện ma túy;
  3. c) Văn bản của Trưởng Công an xã, phường, thị trấn đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

Trong thời hạn sáu ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

2.5. Cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động

Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm:

  1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
  2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Hồ sơ đề nghị áp dụng do cơ quan Công an cấp xã lập, chuyển qua Phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội đối chiếu, xem xét và quyết định chuyển Tòa án cấp huyện. Người nghiện sẽ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi có quyết định của Tòa án.

2.6. Quản lý sau cai nghiện tại cơ sở quản lý tập trung (Trung tâm giáo dục lao động tỉnh): Áp dụng đối với người đã hoàn thành xong thời gian cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Trung tâm, có nguy cơ tái nghiện cao thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Có thời gian nghiện ma tuý từ năm năm trở lên, hoặc sử dụng ma tuý với hình thức tiêm chích từ hai năm trở lên (xác định theo hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm).

– Trong thời gian sáu tháng, đối tượng có hành vi vi phạm nội quy, quy chế của Trung tâm, bị thi hành kỷ luật với hình thức cảnh cáo từ ba lần trở lên hoặc với hình thức cách ly tại phòng kỷ luật từ 2 lần trở lên

– Đã cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm từ ba lần trở lên.

– Không có nghề nghiệp; có nghề nghiệp nhưng không có việc làm ổn định trước khi vào cơ sở cai nghiện ma tuý; không có nơi cư trú nhất định.

Giám đốc Trung tâm cai nghiện có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân cấp huyện ra quyết định áp dụng (trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của Trung tâm). Thời gian thực hiện quy trình quản lý sau cai tập trung tại trung tâm là 24 tháng.

2.7. Quản lý sau cai nghiện tại gia đình và cộng đồng: Áp dụng đối với người đã hoàn thành quy trình cai nghiện tại gia đình và cộng đồng (12 tháng); người đã hoàn thành cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm Giáo dục Lao động nhưng không áp dụng biện pháp quản lý sau cai tập trung.

Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân cấp huyện ra quyết định áp dụng (trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của Trung tâm). Thời gian thực hiện quy trình quản lý sau cai tại nơi cư trú là 24 tháng.

Chi tiết

Chuyên đề 16: Phòng, chống tội phạm bán lẻ ma tuý

CHUYÊN ĐỀ 16

PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BÁN LẺ MA TUÝ

  1. Tình hình tội phạm bán lẻ ma túy

Với số lượng người nghiện ma tuý trên địa bàn toàn tỉnh còn khá lớn (riêng số có hồ sơ quản lý là trên 8.000 người), trong đó còn không ít đối tượng vẫn đang tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, do vậy hoạt động của tội phạm mua bán lẻ ma túy trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp.

Đối tượng bán lẻ ma tuý đa phần là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi bán lẻ ma tuý để có thu nhập phục vụ nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân, diện đối tượng này rất đa dạng, thuộc nhiều lứa tuổi, phần lớn là các đối tượng đã có tiền án, tiền sự về ma túy, các đối tượng tái nghiện (sau khi đã được cai cắt cơn hoặc qua các trung tâm LĐGD); nhiều đối tượng đã nhiễm HIV, có đối tượng chuyển sang giai đoạn AIDS.

Với nhân thân như vậy, hoạt động của đối tượng bán lẻ ma túy rất tinh vi, xảo quyệt, liều lĩnh; khi bị phát hiện bắt giữ thì sẵn sàng chống trả bằng nhiều hình thức như: dùng bơm, kim tiêm có dính máu đã phơi nhiễm HIV để đe dọa, đâm, thậm chí sử dụng vũ khí nóng để chống trả; chúng hoạt động với phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, tạo vỏ bọc kín đáo; chúng tạo ra những địa điểm để hoạt động khép kín như: kín cửa, cao tường, nuôi nhiều chó, lắp đặt camera quan sát, cho đối tượng canh gác…; có đối tượng thường xuyên thay đổi địa điểm, lúc giao bán ma túy không trực tiếp mà thực hiện trao đổi qua điện thoại, sử dụng các ám, ký hiệu riêng với nhau; một số đối tượng lợi dụng vào chính sách khoan hồng của Nhà nước cho tạm hoãn thi hành án như: mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bệnh hiểm nghèo… để hoạt động phạm tội nên rất khó xử lý.

  1. Công tác phòng, chống tội phạm bán lẻ ma tuý

Đấu tranh phòng, chống ma tuý nói chung, phòng, chống tội phạm bán lẻ ma tuý nói riêng là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt.

Để đấu tranh phòng, chống tội phạm bán lẻ ma tuý trên địa bàn, trước hết, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng và toàn xã hội về tác hại của ma túy (đặc biệt là ma tuý tổng hợp) vì nhiều người, thậm chí cả một số cán bộ của các cơ quan chức năng còn cho rằng ma tuý tổng hợp khó gây nghiện.

Gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, quản lý đối với tầng lớp thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên, vì đây là diện đối tượng chủ yếu các đối tượng bán lẻ ma tuý tập trung tác động, lôi kéo tham gia sử dụng trái phép chất ma tuý.

Mỗi người dân, cần quan tâm nắm bắt tình hình, phát hiện kịp thời các địa điểm, các đối tượng có biểu hiện tụ tập sử dụng trái phép chất ma tuý, có dấu hiệu bán lẻ ma tuý, thông báo cho các cơ quan chức năng để xác minh, làm rõ và tổ chức đấu tranh có hiệu quả.

Chi tiết

Chuyên đề 17: Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

CHUYÊN ĐỀ 17

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM, VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN

  1. Tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường

Ở tỉnh ta, trong những năm gần đây, vi phạm pháp luật môi trường diễn ra trong nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển bền vững của tỉnh, xâm phạm nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân như: Ô nhiễm nguồn nước, không khí, thực phẩm kém an toàn…, tại một số địa bàn đã trở thành mầm mống gây mất an ninh trật tự. Tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường nổi lên ở một số lĩnh vực sau:

* Trong sản xuất công nghiệp: Lợi dụng chủ trương mở cửa, chính sách thu hút vốn đầu tư của Nhà nước, của tỉnh cùng với những sơ hở về pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam; nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đã đầu tư các dự án sản xuất, kinh doanh, nhưng không chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, nhất là các nhà máy, cơ sở sản xuất trong các khu công nghiệp đang trong giai đoạn hoàn thiện và các cơ sở nằm trên lưu vực sông, suối. Đáng lo ngại là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tuy có hệ thống xử lý chất thải, nhưng luôn cố tình vi phạm, thủ đoạn tinh vi, lén lút để xả thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, được ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn.

* Trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu: Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành “bãi rác thải công nghiệp”, với thủ đoạn như “tạm nhập, tái xuất”, khi bị phát hiện thì khai là “gửi nhầm hàng” và xin được chuyển trả lại… Một số doanh nghiệp lợi dụng cơ chế kiểm hóa xác suất, thậm chí móc nối với một số tổ chức kiểm định, giám định để có kết luận hàng hóa đạt tiêu chuẩn về môi trường, câu kết với nhân viên hải quan để lấy mẫu trong các lô hàng bảo đảm yêu cầu chất lượng đã được chuẩn bị sẵn, từ đó dễ dàng được thông quan nhập rác vào nước ta. Nghiêm trọng hơn cả là hành vi nhập rác thải sinh hoạt, các loại chất đi-ô-xin, thực phẩm kém chất lượng…

* Trong hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ đa dạng sinh học: Trong nhiều năm qua, nạn chặt phá rừng ở nước ta vẫn đang diễn ra rất bức xúc, đặc biệt là tình trạng chặt phá các khu rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ… với thủ đoạn lợi dụng chính sách chuyển đổi “rừng nghèo”, xây dựng thủy điện, phát quang biên giới để khai thác rừng bừa bãi, kèm theo tình trạng chống người thi hành công vụ gây phức tạp tình hình an ninh trật tự ở nhiều địa phương. Tại các khu vực khai thác khoáng sản, do sử dụng hóa chất như thủy ngân, kim loại nặng, nên nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu bị ô nhiễm, không có biện pháp hoàn nguyên môi trường, chống xói mòn, rửa trôi, làm ảnh hưởng hệ sinh thái, gây phong hóa biến rừng thành đất trống đồi núi trọc, tiềm ẩn nguy cơ lũ quét cao.

* Tình trạng săn bắn, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã, quý hiếm: Diễn ra công khai ở nhiều nơi. Qua một số vụ việc do lực lượng cảnh sát môi trường điều tra, khám phá cho thấy vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này tiếp diễn phức tạp, nhất là buôn bán các loài động vật quý hiếm có lợi nhuận cao như gấu, rắn…. Các đường dây mua bán, vận chuyển động vật hoang dã qua biên giới với thủ đoạn tinh vi, che giấu bằng nhiều hình thức nhằm đối phó với cơ quan chức năng. Tỉnh ta đang là địa bàn trung chuyển các loại động vật hoang dã và sản phẩm từ động vật hoang dã;

* Trong sản xuất chế biến, làng nghề: Hầu hết do quy mô sản xuất nhỏ lẻ ở hộ gia đình, trình độ sản xuất thủ công theo kinh nghiệm, công nghệ sản xuất thô sơ, không quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải, dẫn đến tình trạng môi trường tại các làng nghề rất đáng báo động. Chất thải từ hoạt động sản xuất chế biến của các làng nghề nhìn chung không được xử lý mà xả trực tiếp ra sông suối, nương rẫy… Các chất thải độc hại khó phân hủy tại các làng nghề, đặc biệt là chế biến cà phê, bột dong…, đã làm cho các chỉ số BOD, COD, SS đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của nhân dân.

* Trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm: Tình hình hoạt động buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia súc, gia cầm không qua kiểm dịch; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh vẫn diễn ra phức tạp… diễn ra nhỏ lẻ, gây khó khăn cho công tác kiểm soát, bán ra thị trường, gây nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm;

* Vấn đề quản lý, xử lý chất thải nguy hại: Đang bị buông lỏng, mặc dù có doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, nhưng phần lớn chưa được đầu tư thỏa đáng, công nghệ xử lý lạc hậu nên đã góp phần vào việc gây ô nhiễm môi trường. Thâm chí có cơ sở còn chôn chất thải nguy hại xuống dưới lòng đất nhằm giảm chi phí xử lý…

  1. Một số vụ điển hình

– Ngày 12/12/2013, lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, phạt tiền 160.000.000đ đối với Chi nhánh Công ty CP tinh bột sắn FOCOCEV- Nhà máy tinh bột sắn Sơn La thuộc địa phận xã Mường Bon, huyện Mai Sơn về hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải; không phân loại chất thải nguy hại, không bố trí nơi an toàn để lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại, để chất thải nguy hại rơi vãi ra môi trường.

– Tháng 7/2015, lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối tượng Lò Văn Tại, trú tại bản Đứa, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã vận chuyển trái phép 01 cá thể gấu nặng 3,9 kg từ Lào về Việt Nam tiêu thụ, đã lập hồ sơ điều tra, truy tố, xử phạt 12 tháng tù.

– Ngày 21/10/2015 lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, xử lý hành chính phạt tiền 243.690.000 VNĐ đối với cơ sở chế biến cà phê ướt của DNTN Thu Thủy tại bản Đông Hưng, Muổi Nọi, Thuận Châu do vi phạm về xả nước thải trực tiếp ra môi trường không qua xử lý.

– Ngày 16/11/2015, lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, xử lý hành chính phạt tiền 85 triệu đồng đối với 01 đối tượng có hành vi vi phạm thăm dò quặng đồng trái phép tại bản Lóng, xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai.

– Ngày 02/12/2015 lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, xử lý hành chính phạt tiền 225 triệu đồng đối với đối tượng Trần Văn Thuận, trú tại xã Mường Bon, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La về hành vi vận chuyển dầu thải khi không có giấy phép quản lý chất thải nguy hại; đồng thời xử phạt Công ty cổ phần cơ khí Sơn La 70 triệu đồng về hành vi không đăng ký chủ nguồn thải chất thải.

– Ngày 22/01/2016, lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, phạt tiền 03 triệu đồng đối với Sìn Đào Vĩnh, trú tại phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên về hành vi vận chuyển trái phép 200 kg thịt trâu (Ấn Độ) đông lạnh.

– Ngày 27/01/2016, lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, triệt phá cơ sở sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm của Nguyễn Hữu Hưởng tại Tiểu khu 6, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, thu giữ 21.520 chai orange cam, 2.592 chai tafan cam, 826 chai cola và dây chuyền, máy móc cùng vỏ chai, tem, nhãn mác…

  1. Một số quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường (theo quy định tại các Nghị định 119, 142, 157, 178 của Chính phủ và Bộ luật hình sự năm 2015):

3.1. Vi phạm các quy định liên quan đến kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật: bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

3.2. Không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP (hoặc giấy đã hết hạn): phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền đến 25.000.000 đồng, tùy theo thời hạn giấy hết hoặc tẩy xóa, làm giả giấy tờ.

3.3. Sử dụng chất phụ gia không rõ nguồn gốc xuất xứ, nguyên liệu phụ gia hết hạn sử dụng: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

3.4. Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không có Giấy phép, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, tùy theo loại khoáng sản, lượng khoáng sản khai thác mỗi ngày,đêm.

3.5. Chôn lấp, xả chất thải, nước thải, bụi, khí thải không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật: Nếu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 đến 07 năm.  Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, tuỳ theo lượng nước thải, chất thải.

3.6. Mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép, động vật hoặc sản phẩm động vật hoang dã, quý hiếm: Nếu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 10 năm. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tuỳ theo số lượng tang vật vi phạm.

3.7. Huỷ hoại rừng hoặc đốt, phá rừng trái phép: Nếu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 50.000.000 đồng, tùy theo diện tích rừng bị phá.

3.8. Đổ thải chất thải rắn thông thường không đúng nơi quy định: bị phạt tiền từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, tùy theo trọng lượng hoặc khối lượng chất thải.

3.9. Điều khiển phương tiện vận chuyển nguyên liệu, vật liệu không che chắn trong khi tham gia giao thông: bị phạt tiền từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ.

  1. 4. Các hình thức huy động nhân dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

– Cấp uỷ, chính quyền cơ sở, các lực lượng chức năng tăng cường tuyên truyền, phổ biến các hành vi xâm hại môi trường, vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm để quần chúng nhân dân biết, chủ động, kịp thời phát giác, tố giác với các lực lượng chức năng lập hồ sơ xử lý.

– Lãnh đạo các ngành, công ty, các chủ cơ sở, cá nhân hoạt động kinh doanh, sản xuất liên quan đến lĩnh vực môi trường cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, quán triệt đến toàn thể cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong cơ sở, trong cơ quan, đơn vị mình chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; mỗi quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường; khi phát hiện các cơ sở, cá nhân hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, chủ động thông báo đến các cơ quan chức năng để điều tra, xử lý kịp thời; tuyên truyền cho người thân chấp hành nghiêm túc những quy định pháp luật của nhà nước về lĩnh vực môi trường.

– Quần chúng nhân dân quan tâm đến môi trường xung quanh địa bàn cư trú, sinh sống, học tập và công tác của bản thân, kịp thời phát hiện, thu thập tài liệu, phát giác, tố giác với các cơ quan chức năng xử lý hoạt động của các cơ sở, các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm về môi trường; lên án nghiêm khắc các hành vi gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường.

Chi tiết

Chuyên đề 18: Tình hình tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ

CHUYÊN ĐỀ 18

TÌNH HÌNH TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG TRÁI PHÉP VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ

  1. Nhận thức chung về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ

1.1. Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.

  1. Vũ khí quân dụng gồm: súng cầm tay hạng nhỏ, như súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên…; Vũ khí hạng nhẹ như súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, súng phóng lựu, tên lửa chống tăng… và các loại bom, mìn, lựu đạn, đạn, ngư lôi, thủy lôi, hỏa cụ. Ngoài ra, còn có một số loại vũ khí không thuộc danh mục nêu trên, nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.
  2. Súng săn là súng dùng để săn bắn gồm súng kíp, súng hơi, các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự.
  3. Vũ khí thô sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ.
  4. Vũ khí thể thao là súng và các loại vũ khí thô sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể thao.
  5. Vật liệu nổ gồm thuốc nổ và các phụ kiện nổ.
  6. Vật liệu nổ quân dụng là vật liệu nổ sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh.
  7. Vật liệu nổ công nghiệp là vật liệu nổ sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, kinh tế, dân sinh.
  8. Công cụ hỗ trợ gồm:
  9. a) Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này;
  10. b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;
  11. c) Các loại lựu đạn khói, lựu đại cay, quả nổ;
  12. d) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khoá số tám, bàn chông, dây đinh gai, áo giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn;

đ) Động vật nghiệp vụ.

1.2. Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 quy định:

– Chỉ có Quân đội nhân dân; Công an nhân dân; Dân quân tự vệ; Kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan, đơn vị Hải quan cửa khẩu; An ninh hàng không mới được trang bị vũ khí quân dụng.

– Nghiêm cấm cá nhân sở hữu vũ khí, trừ vũ khí thô sơ như dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ.

– Nghiêm cấm chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán, nhập khẩu, xuất khẩu trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

– Nghiêm cấm giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

– Nghiêm cấm cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

– Nghiêm cấm đào bới, tìm kiếm vũ khí, vật liệu nổ khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

  1. Tình hình và một số vụ việc điển hình

2.1. Tình hình:

– Trên địa bàn tỉnh Sơn La, do đặc điểm là địa bàn miền núi, vùng cao, biên giới, tập tục săn bắn, hái lượm còn tồn tại từ lâu đời, một số người dân vẫn lén lút tàng trữ, sử dụng trái phép súng săn, súng kíp, thậm chí có người còn tàng trữ, sử dụng súng thể thao, súng quân dụng để đi săn bắn chim muông, thú rừng. trong một số trường hợp, đã để xảy ra tai nạn khi đi săn bắn (bắn nhầm vào người khác, vào bạn cùng đi săn) hoặc do thuận lợi nên đã xảy ra trường hợp sử dụng vũ khí gây án hoặc tự sát, gây hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội.

– Một số đối tượng hoạt động phạm tội đã mua bán, tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng để phục vụ hoạt động phạm tội của bản thân và đồng bọn, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

2.2. Một số vụ điển hình:

– Ngày 07/4/2015, Đinh Văn Hà, trú tại bản Pù Lầu, xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, sử dụng súng kíp tự chế đi săn, đã bắn nhầm vào anh Sùng Lao Tráng là người cùng bản, làm anh Tráng bị thương nặng ở vùng bụng, lưng, đùi, bị Công an huyện Vân Hồ xử phạt 03 triệu đồng về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí.

– Ngày 23/6/2015, Lầu A Cháy, trú tại bản Mạt, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp do mâu thuẫn gia đình đã sử dụng vũ khí quân dụng (súng AK) đe dọa giết vợ, con, sau đó dùng súng bắn lại lực lượng chức năng đến giải quyết. Công an huyện Sốp Cộp đã khởi tố Lầu A Cháy về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, đang hoàn tất hồ sơ xử lý.

– Ngày 16/7/2015, Giàng A Páo, trú tại bản Co Tòng, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ trong lúc sử dụng súng kíp tự chế đi săn, đã bị súng cướp cò, tự bắn vào bản thân gây tử vong.

– Ngày 05/10/2015, Triệu Văn Trài, trú tại bản Suối Lẹt, xã Kim Bon, huyện Phù Yên là bảo vệ kho vật liệu nổ công nghiệp của Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản Tây Bắc, đã phá kho vật liệu nổ, lấy thuốc nổ ADIF32, kíp nổ, dây cháy chậm, mang tới kích nổ tại nhà chị Lò Thị Liên ở cùng bản, gây thương tích nặng cho bản thân và tử vong sau đó.

– Ngày 02/12/2015, Vừ A Công, 03 tuổi, trú tại bản Co Dâu, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã, trong lúc chơi đùa, đã dùng súng bắn đạn hơi cồn của bố là Vừ A Thọ, bắn vào đầu Vừ A Tủa, 04 tuổi ở cùng bản, làm Vừ A Tủa tử vong trên đường đi cấp cứu.

– Ngày 14/01/2016, tại huyện Mộc Châu, lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt quả tang 02 đối tượng: Nguyễn Văn Mùi, trú tại xã Thượng Hòa, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và Bạc Văn Ngân, trú tại bản Đông, xã Tường Phù, huyện Phù Yên đang có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ công nghiệp, thu giữ 02 kg thuốc nổ ADIF32; 4,8 kg thuốc nổ ANFO; 17 kíp điện. Công an huyện Mộc Châu đã khởi tố vụ việc, đang điều tra, làm rõ.

– Ngày 03/02/2016, Công an huyện Vân Hồ phát hiện, lập hồ sơ xử phạt tiền 03 triệu đồng đối với Sồng A Lự, trú tại bản Tà Dê, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, thu giữ 01 khẩu súng AK do Trung Quốc sản xuất, 01 hộp tiếp đạn.

  1. Quy định của Pháp luật về xử lý vi phạm

3.1. Xử lý hành chính

Tùy theo mức độ và hành vi vi phạm, có thể bị xử phạt từ 500.000đ đến 40.000.000đ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

3.2. Xử lý hình sự

– Hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

– Hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị phạt tù từ ba tháng đến 05 năm; ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

– Hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Chi tiết

Chuyên đề 19: Một số quy định của pháp luật liên quan đến công tác quản lý cư trú; quản lý và sử dụng CMND

CHUYÊN ĐỀ 19

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƯ TRÚ;

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CMND

  1. Vi phạm về cư trú:

1.1. Không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

1.2. Không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng, bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

1.3. Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

1.4. Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú, bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

1.5. Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật, bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

1.6. Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú, bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

1.7. Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

1.8. Không khai báo tạm trú cho người nước ngoài thuê nhà để ở, bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

  1. Công tác quản lý và sử dụng Chứng minh nhân dân

2.1. Đối tượng được cấp CMND

– Công dân Việt Nam, từ đủ 14 tuổi trở lên, đang sinh sống, làm việc, học tập… tại một địa chỉ xác định trên lãnh thổ Việt Nam thì được cấp CMND.

– Công dân Việt Nam, đang bị tạm giam, tạm giữ; đang thi hành án phạt tù; đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có khả năng điều khiển được năng lực hành vi thì tạm thời chưa được cấp CMND.

2.2. Thời hạn sử dụng của CMND: 15 năm.

2.3. Thủ tục cấp CMND:

– Đơn xin cấp CMND (theo mẫu CM3), ghi rõ lý do xin cấp CMND (cấp đổi, cấp lại, cấp mới) có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (riêng trường hợp cấp đổi CMND mà các thông tin trên CMND còn nguyên vẹn, rõ ràng, không phải có xác nhận và đóng dấu giáp lai vào ảnh của Công an xã, phường, thị trấn nơi ĐKHKTT).

– Xuất trình Sổ hộ khẩu thường trú.

2.4. Xử lý vi phạm liên quan đến quản lý, sử dụng CMND:

– Không xuất trình CMND khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền hoặc không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, cấp đổi CMND, bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

– Tẩy xoá, sửa chữa CMND hoặc sử dụng CMND của người khác; cho người thuê, mượn CMND để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật, bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

 Làm giả CMND; Sử dụng CMND giả hoặc khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp sai thông tin, tài liệu để được cấp CMND, bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

– Thế chấp CMND để thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật, bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Chi tiết

Chuyên đề 20: Tình hình, công tác PCCC tại khu dân cư

CHUYÊN ĐỀ 20

TÌNH HÌNH, CÔNG TÁC PCCC TẠI KHU DÂN CƯ

  1. Tình hình, nguy cơ xảy ra cháy, nổ

Năm 2015, cả nước xảy ra 2.792 vụ cháy (2.404 vụ cháy tại các cơ sở, nhà dân, phương tiện giao thông và 388 vụ cháy rừng). Thiệt hại: làm chết 62 người, bị thương 264 người, về tài sản thiệt hại 1.498,3 tỷ đồng và 1623,2 ha rừng. Trong đó có 29 vụ cháy lớn, làm chết 01 người, bị thương 04 người, thiệt hại tài sản 1.139,8 tỷ đồng.

– Nổ xảy ra 35 vụ làm chết 12 người, bị thương 41 người, thiệt hại về tài sản 896 triệu đồng.

Riêng tại địa bàn tỉnh Sơn La, năm 2015 xảy ra 46 vụ cháy, (trong đó 17 vụ cháy nhà, 19 vụ cháy rừng, 10 vụ cháy khác). Thiệt hại do cháy gây ra: làm chết 03 người, bị thương 01 người, thiệt hại cháy 17 căn nhà gỗ, 01 nhà kho, 01 xe ô tô, 01 xe máy và một số tài sản khác ước tính thiệt hại về tài sản khoảng 4 tỉ đồng; 2.32,5 ha rừng. Nổ, xảy ra 02 vụ nổ (không thiệt hại về người).

Từ số liệu trên cho thấy tình hình cháy đối với khu dân cư chiếm tỷ lệ lớn (Khoảng 60%); công tác phòng chống cháy, nổ tại khu dân cư đã đến mức báo động. Qua kết quả kiểm tra của cơ quan chức năng tại các hộ kinh doanh hàng hóa nằm xen lẫn trong khu khu dân cư, các hộ gia đình thì hầu hết đều dẫn đến nguy cơ cháy, nổ cao (trong đó, có khoảng trên 90% hộ kinh doanh chưa chủ động đối phó khi có sự cố xảy ra). Diện tích kinh doanh của các hộ đa số đươc kết hợp với nhà ở, sinh hoạt nên rất chật hẹp; hàng hóa kinh doanh chủ yếu là các mặt hàng khô dễ cháy như may mặc, điện tử, hàng khô được bày bán lấn chiếm hết lối đi lại nhất là ở khu vực cầu thang, cửa ra vào. Hệ thống điện, bếp đun nấu được bố trí, lắp đặt không đảm bảo yêu cầu, nhiều hộ dân còn sử dụng nguồn lửa sinh hoạt sát với hàng hóa. Mặt khác, để đề phòng trộm cắp, các hộ kinh doanh này đã làm các khung sắt, cửa sắt (kiểu chuồng cọp) rào chắn kỹ lưỡng, khiến cả căn nhà không có lối thoát hiểm khi xảy ra cháy. Dụng cụ, phương tiện chữa cháy không được trang bị, lắp đặt hoặc có trang bị, nhưng thời gian lâu không được bảo dưỡng, thậm chí nhiều hộ kinh doanh còn đặt bình chữa cháy vào trong nhà kho hoặc để không đúng địa điểm phù hợp, nên khó ứng phó kịp thời khi có cháy xảy ra.

  1. Một số vụ cháy, nổ điển hình tại khu dân cư trên địa bàn toàn quốc.

2.1. Vụ cháy quán karaoke New, địa chỉ: 170 đường Trần Quốc Thảo, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12/2014, làm chết 01 người và cháy 1.094m2 của các hộ dân xung quanh và 72 xe gắn máy các loại. Nguyên nhân: Do sự cố điện gây cháy.

2.2. Vụ cháy nhà xưởng sản xuất và kho chứa hàng thuộc Công ty TNHH Việt Nam Sam Hô chuyên sản xuất giày thể thao, địa chỉ xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/3/2015, đã hủy hoại hoàn toàn 12.280m2 nhà xưởng, nhà kho và gây thiệt hại tài sản trị giá 315,214 tỷ đồng. Nguyên nhân do sự cố điện gây cháy.

2.3. Vụ cháy tại Công ty may mặc Cây dừa, địa chỉ xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre ngày 27/3/2015, đã hủy hoại 3.000m2 nhà xưởng, nhà kho và gây thiệt hại tài sản trị giá 110 tỷ đồng. Nguyên nhân: Đang điều tra làm rõ.

2.4. Vụ cháy tại Công ty Cổ phần Ngân Sơn, thuộc Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, địa chỉ Khu Công nghiệp Tiên Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày 19/8/2015, đã hủy hoại 8.200m2 nhà kho và gây thiệt hại tài sản trị giá 317 tỷ đồng. Nguyên nhân cháy do chất diệt côn trùng (Nhôm phốt phua ALP) gặp độ ẩm cao gây phản ứng hóa học tự phát cháy bén vào các kiện thành phẩm thuốc lá.

2.5. Vụ cháy tại nhà dân, địa chỉ thôn Đồng Xoài, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày 15/12/2014 làm chết 03 người, bị thương 03 người. Chưa rõ nguyên nhân.

2.6. 19giờ 00 phút ngày 6/01/2015 xảy ra cháy tại khu dân cư xóm chợ thị trấn Thới Bình tỉnh Cà mau, đám cháy thiêu dụi 560 m2 nhà chợ thiết hại về tài sản ước tính 40 tỷ đồng. Nguyên nhân cháy do sự cố điện gây cháy.

2.7. Vụ cháy nhà dân tại phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xảy ra ngày 29/12/2014 làm chết 06 người. Nguyên nhân do sự cố điện gây cháy.

2.8. Vụ cháy tại chung cư CT4, Khu đô thị Xa La, địa chỉ phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, ngày 11/10/2015 gây hoảng loạn cho hàng trăm người dân sống tại tòa chung cư. Nguyên nhân cháy sơ bộ ban đầu do chập điện tại cáp dẫn điện vị trí tủ điện đặt tại khu vực giữa cột trụ số 3 và trụ cột số 4 tầng hầm B1.

  1. Các biện pháp ngăn ngừa cháy, nổ ở khu dân cư.

Tình hình cháy nổ tại các cơ sở sản xuất, các chợ, trung tâm thương mại, các hộ gia đình, lượng hàng hóa, vật tư, nguyên vật liệu dễ cháy tiềm ẩn nhiều nguy cơ; đặc biệt là thời điểm mùa hanh khô, nắng nóng, nguy cơ và điều kiện gây cháy sẽ tăng cao.

Để đảm bảo an toàn PCCC cho các khu dân cư, đặc biệt là các khu dân cư tập trung có nhiều nhà làm bằng vật liệu dễ cháy, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất số vụ và thiệt hại về người và tài sản do cháy gây ra, đề nghị chính quyền địa phương, các tổ, bản,… cần thực hiện những biện pháp sau đây:

(1). Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân nêu cao ý thức cảnh giác, phòng ngừa cháy, nổ cũng như ý thức trách nhiệm vì cộng đồng trong hoạt động PCCC, kiên quyết đấu tranh với tư tưởng “Cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”.

(2). Niêm yết các nội quy, quy định về công tác PCCC để nhân dân thực hiện tốt công tác trong khu dân cư. Hướng dẫn các biện pháp phòng cháy trong hộ gia đình, đặc biệt là các biện pahps đảm bảo an toàn trong việc sử dụng điện, xăng dầu, GAS, bếp củi dùng trong đun nấu, sinh hoạt, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nguồn lửa, hệ thống điện, GAS, chất cháy vào thời điểm có nguy cơ cháy cao.

(3). Tổ chức tuần tra canh gác vào ban đêm để phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp cháy, nổ, không để xảy ra cháy lớn, gây hậu quả nghiêm trọng.

(4). Phối hợp với ngành điện lực kiểm tra, khắc phục ngay những sơ hở thiếu sót trong việc cung ứng, truyền tải điện trong khu vực dân cư đến các hộ tiêu thụ điện, đề phòng chập, cháy từ hộp công tơ, đường dây điện lan vào nhà ở.

(5). Tổ chức cho các hộ kinh doanh, các cơ sở, hộ sản xuất các mặt hàng dễ cháy xen lẫn trong các khu dân cư ký cam kết thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn PCCC.

(6). Vận động nhân dân, các hộ kinh doanh:

– Tự giác dỡ bỏ các bộ phận cơi nới, lều, lán, mái che, mái vẩy bằng các vật liệu dễ cháy sát nhau hoặc thay thế vật liệu dễ cháy bằng khó cháy hoặc không cháy trước hết làm theo từng dãy tạo thành khoảng cách để ngăn cháy lan. Đồng thời tiến hành giải phóng các hàng hóa, vật cản trên các đường làng, ngõ xóm để tạo điều kiện cho việc chữa cháy, cứu người, cứu tài sản được dễ dàng.

– Dự trữ nước sinh hoạt kết hợp để chữa cháy. Nơi nào có điều kiện thì tổ chức xây bể chứa nước chữa cháy cho từng cụm hoặc cho cả khu dân cư.

– Tự mua sắm, trang bị phương tiện, dụng cụ chữa cần thiết như câu liêm, thang, bình chữa cháy xách tay, xô, thùng xách nước… Đối với những khu dân cư tập trung nhiều nhà dễ cháy, chính quyền địa phương cần trang bị ngay máy bơm chữa cháy.

– Xây dựng lực lượng chữa cháy dân phòng, bố trí những người có công việc ổn định thường  xuyên có mặt trên địa bàn để thường trực sẵn sàng chữa cháy và khi cần huy động được ngay.

–  Xây dựng, học tập và tổ chức thực tập phương án chữa cháy tại khu dân cư nhằm chủ động đối phó với các vụ cháy xảy ra.

– Để đảm bảo sự chỉ huy thống nhất cũng như tạo thành thói quen trong cộng đồng dân cư trong công tác PCCC, Chính quyền địa phương nên quy định thống nhất các hiệu lệnh bằng trống, kẻng, còi hoặc các hình thức khác để các gia đình và mọi người trong khu dân cư đều biết để thực hiện. Như hiệu lệnh trước khi đi ngủ phải kiểm tra bếp, nơi đun nấu, nơi thờ cúng; các thiết bị, dụng cụ điện hay hiệu lệnh báo động thực tập phương án; hiệu lệnh báo động có cháy; hiệu lệnh báo an khi sự cố…

– Xây dựng các cụm dân cư an toàn về PCCC, quy định chế độ kiểm tra và nhắc nhở lẫn nhau giữa các gia đình trong cụm, tạo nên một phong trào hoạt động PCCC có hiệu quả ở khu dân cư.

– Phát hiện và đề nghị xử lý kịp thời những tổ chức, cá nhân không chấp hành hoặc vi phạm các quy định về an toàn PCCC.

(7). Khi có cháy xảy ra thì chủ động huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ tổ chức chữa cháy kịp thời; Thông tin báo cháy ngay cho lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH theo số máy báo cháy khẩn cấp 114 hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất để kịp thời chi viện và tổ chức chỉ huy chữa cháy.

Chi tiết

Chuyên đề 21: Tình hình, công tác đảm bảo TTATGT

CHUYÊN ĐỀ 21

TÌNH HÌNH, CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TTATGT

  1. Tình hình TNGT:

 Năm 2015, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 165 vụ tai nạn giao thông (164 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ tai nạn giao thông đường thủy), làm chết 97 người, bị thương 149 người. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1,3 tỷ đồng. Trong đó va chạm giao thông xảy ra 60 vụ, làm bị thương 66 người.

– So với năm 2014, tai nạn giao thông giảm cả ba tiêu chí (giảm 42 vụ = 20%, giảm 07  người chết = 7%, giảm 22 người bị thương = 13%).

– Trong số các vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, tai nạn nghiêm trọng chiếm chủ yếu (71 vụ, chiếm 43%, làm chết 71 người, bị thương 37 người), sau đó đến tai nạn ít nghiêm trọng (21 vụ) và tai nạn đặc biệt nghiêm trọng (12 vụ).

– Về tuyến đường xảy ra tai nạn: chủ yếu trên các tuyến quốc lộ (81 vụ, chiếm 49%), sau đó đến đường tỉnh (09 vụ), nội thị (09 vụ).

– Về địa bàn xảy ra tai nạn: Thành phố Sơn La là địa bàn xảy ra nhiều tai nạn nhất (47 vụ, chiếm 28,5%), sau đó đến huyện Vân Hồ (26 vụ, chiếm 16%), Thuận Châu và Yên Châu (16 vụ, chiếm 9,6%), Mộc Châu (14 vụ, chiếm 8,5%), Phù Yên và Sông Mã (10 vụ, chiếm 6%), các địa bàn còn lại xảy ra từ 03 đến 09 vụ.

– Về lỗi gây tai nạn: Chủ yếu là lỗi không làm chủ tốc độ (39 vụ, chiếm 23,6%); đi không đúng phần đường (29 vụ, chiếm 17,6%); không chú ý quan sát (07 vụ, chiếm 4,2%); tránh, vượt sai quy định (05 vụ, chiếm 3%); sử dụng rượu, bia (03 vụ, chiếm 2%).

– Về phương tiện gây tai nạn: chủ yếu là xe mô tô (102 vụ, chiếm 61,8%); xe ô tô (62 vụ, chiếm 37,5%).

– Về độ tuổi người điều khiển phương tiện:chủ yếu từ 27 tuổi đến 55 tuổi (54 vụ, chiếm 32,7%); từ 18 – 27 tuổi (50 vụ, chiếm 30,3%).

– Về thời gian xảy ra tai nạn: chủ yếu từ 18h đến 24h (41 vụ, chiếm 24,8%); từ 12h đến 18h (29 vụ, chiếm 17,6%); từ 06h đến 12h (23 vụ, chiếm 14%).

  1. Một số vụ TNGT điển hình:

Vụ 1: Hồi 00h10’ ngày 25/5/2015 tại Km 310 + 450 – QL6 đoạn thuộc xã Chiềng Cọ – Thành phố Sơn La; anh Đinh Văn Dũng, sinh năm 1990, trú tại Thị trấn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-19396 đi theo hướng Sơn La – Điện Biên đã đâm húc vào xe mô tô 26B2-02898 (do anh Lò Lâm Sung, sinh năm 1996, trú tại Thuận Châu – Sơn La điều khiển) và xe mô tô 26H2-1340 (do anh Quàng Văn Dương, sinh năm 1991, trú tại Chiềng Cọ – Thành phố Sơn La điều khiển) đi hướng ngược chiều đến, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: anh Sung và anh Dương tử vong. Nguyên nhân được xác định là do anh Dũng điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường gây ra tai nạn giao thông.

Vụ 2: Hồi 14h05’ ngày 23/9/2015, tại Km 74+400 QL43, đoạn thuộc Tiểu khu 66 – TTNT Mộc Châu; anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1995, trú tại TK Chè Đen – TTNT Mộc Châu điều khiển xe mô tô BKS 26B1-09133 (trên xe có chở theo 02 người: Nguyễn Văn Yên, sinh năm 1996 và Võ Tấn Thái, sinh năm 1997 cùng trú tại Sao Đỏ – Vân Hồ) đi theo hướng Mộc Châu – Phù Yên; khi đi đến đoạn đường vòng cua bên trái do không làm chủ tốc độ đã tự đam vào tà ly bên phải và trượt trên lề đường. Hậu quả: 01 người chết, 02 người bị thương nặng, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 5 triệu đồng.

Vụ 3: Hồi 14h00 ngày 24/10/2015 tại km 03 Quốc lộ 43 thuộc địa phận xã Tường Phù – Phù Yên xảy ra vụ TNGT giữa xe ô tô đầu kéo BKS 88C-06424, kéo theo Rơ mooc 88R00392 do Dương Văn Lưu sinh năm 1978 trú tại Bồ Sào – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc điều khiển đi theo hướng ngã ba Gia Phù đến Vạn Yên đã đâm vào xe mô tô  BKS 26K4-8941 do anh Đinh Văn Thiệp sinh năm 1985, trú tại Bản Liếm – xã Tân Phong – Phù Yên – Sơn La chở theo vợ là Lường Thị Nhiễu sinh năm 1993 và con trai Đinh Văn Thăng sinh năm 2011 đi cùng chiều phía trước gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: Chết 02 người, bị thương 01 người; Nguyên nhân: Vượt sai quy định.

  1. Một số quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm TTATGT:

3.1. Lỗi vi phạm về tốc độ:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 500.000đ đến 8.000.000đ, tước giấy phép lái xe từ 1 đến 2 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 100.000đ đến 3.000.000đ, tước giấy phép lái xe 1 tháng.

2.2. Lỗi vi phạm về nồng độ cồn:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 200.000đ đến 15.000.000đ, tước giấy phép lái xe từ 1 đến 2 tháng, tạm giữ phương tiện 07 ngày.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 500.000đ đến 3.000.000đ, tước giấy phép lái xe từ 01 đến 02 tháng, tạm giữ phương tiện 07 ngày.

2.3. Lỗi không đội mũ bảo hiểm: đối với người điều khiển, người ngồi trên mô tô, xe máy (kể cả xe mô tô điện, xe máy điện) sẽ bị xử phạt từ 100.000đ đến 200.000đ.

2.4. Lỗi chở quá số người quy định:

– Đối với người điều khiển xe ô tô khách: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 500.000đ đến 1.000.000đ trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện, tước giấy phép lái xe đến 01 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: Tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt từ: 100.000đ đến 400.000đ.

2.5. Lỗi chở quá tải trọng quy định: tùy theo mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền từ 500.000đ đến 40.000.000đ.

2.6. Lỗi đi vào đường cấm, đường ngược chiều, đi không đúng phần đường, làn đường:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 800.000đ đến 1.200.000đ, tước giấy phép lái xe 01 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ 200.000đ đến 400.000đ, tước giấy phép lái xe 1 tháng.

2.7. Lỗi vượt xe trái phép:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ, tước giấy phép lái xe 2 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: tùy theo mức độ và hành vi vi phạm có thể bị xử phạt từ: 200.000đ đến 1.000.000đ, tước giấy phép lái xe 1 tháng.

2.8. Lỗi không chấp hành tín hiệu đèn giao thông:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ: 600.000đ đến 1.200.000đ, tước giấy phép lái xe 01 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ: 100.000đ đến 400.000đ, tước giấy phép lái xe 1 tháng.

2.9. Lỗi chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ: 600.000đ đến 800.000đ.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ: 200.000đ đến 400.000đ.

2.10. Lỗi không mang theo giấy tờ có liên quan đến phương tiện và người điều khiển (GPLX, Đăng ký xe, bảo hiểm TNDS, chứng nhận kiểm định):

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 200.000đ đến 600.000đ.

– Đối với người điều khiển xe mô tô: bị xử phạt từ 80.000đ đến 120.000đ.

2.11. Lỗi điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ, đuổi nhau trên đường bộ:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 7.000.000đ đến 8.000.000đ, tước giấy phép lái xe 4 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ, tước giấy phép lái xe 02 tháng.

2.12. Lỗi không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông:

 – Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 800.000đ đến 1.200.000đ.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ 200.000đ đến 400.000đ, tước giấy phép lái xe 1 tháng.

2.13. Lỗi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ, tước giấy phép lái xe 02 tháng.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ: 2.000.000đ đến 3.000.000đ, tước giấy phép lái xe 02 tháng.

2.14. Lỗi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn:

– Đối với người điều khiển xe ô tô: bị xử phạt từ 300.000đ đến 400.000đ.

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy: bị xử phạt từ 100.000đ đến 200.000đ.

Chi tiết

Chuyên đề 22: Công tác quản lý, giáo dục đối tượng tại  xã, phường, thị trấn

CHUYÊN ĐỀ 22

CÔNG TÁC QUẢN LÝ, GIÁO DỤC ĐỐI TƯỢNG TẠI  XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực TTATXH nhưng tính chất, mức độ vi phạm chưa đến mức phải xử lý hình sự và chưa đến mức cách ly khỏi xã hội nhằm quản lý, ngăn ngừa không để họ tiếp tục vi phạm pháp luật, đồng thời phát huy vai trò của các cơ quan, đoàn thể, cộng đồng dân cư trong việc giúp đỡ cảm hóa giáo dục để họ hướng đến cuộc sống lương thiện.

  1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn

(1). Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự;

(2). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự;

(3). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng;

(4). Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.

(5). Người từ đủ 18 tuổi trở lên, trong 6 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự an toàn xã hội;

– Những người quy định tại các mục 1, 2 và 3 trên mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị, trấn.

– Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nước ngoài.

  1. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Từ 3 đến 6 tháng, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của người vi phạm.

* Chú ý: Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong 6 tháng đã ít nhất 2 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng sẽ được xem xét, quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình nếu đáp ứng 3 điều kiện: Tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình; có môi trường sống thuận lợi cho việc thực hiện biện pháp này; cha mẹ hoặc người giám hộ có nhân thân tốt, có điều kiện thuận lợi để quản lý, giáo dục người chưa thành niên và có bản cam kết theo quy định.

* Cá nhân bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nếu trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc 1 năm, kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tái phạm, thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

  1. Thẩm quyền

 Chủ tịch UBND cấp xã nơi người vi phạm cư trú, nơi cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em đã tiếp nhận người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định đóng trụ sở, có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (theo Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP).

  1. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người được phân công trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục

Người đứng đầu cơ quan tổ chức được giao quản lý, giáo dục phải phân công người có điều kiện, năng lực và kinh nghiệm xây dựng kế hoạch trực tiếp giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục.

Việc giáo dục giúp đỡ có thể được thực hiện bằng gặp gỡ trực tiếp gia đình, thông qua các lớp hướng nghề, tìm việc làm… và nếu người được giáo dục không tiến bộ, vi phạm cam kết, được người phân công giúp đỡ nhắc nhở nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa, thì tổ chức được giao quản lý, giúp đỡ báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức cuộc họp để góp ý cho người được giáo dục.

Định kỳ hàng tháng báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã về kết quả giám sát, giáo dục người được giáo dục.

  1. Trách nhiệm của người được giáo dục

Có bản cam kết về việc chấp hành quyết định với cơ quan, tổ chức được giao quản lý, giúp đỡ;

Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của nhà nước;

Tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy quy định của địa phượng nơi cư trú;

Được lao động, tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề; các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống phù hợp được tổ chức tại địa phuơng, sinh hoạt tại nơi cư trú.

Được hướng dẫn thực hiện thủ tục khai báo tạm vắng, đăng ký thường trú; được tạo điều kiện tìm việc làm; được xem xét hỗ trợ cho vay vốn từ các ngân hàng chính sách, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, nhân đạo ở địa phương trong trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;

Được đề xuất nguyện vọng, kiến nghị với Chủ tịch UBND, Trưởng Công an cấp xã;

Chịu sự quản lý, giám sát của gia đình và người được phân công phối hợp giám sát. Trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú dưới 15 ngày phải thông báo cho người được phân công giúp đỡ; vắng từ 15 đến 30 ngày, thay đổi nơi cư trú người được giáo dục hoặc cha mẹ, người giám hộ của người dưới 16 tuổi phải có đơn gửi Chủ tịch UBND cấp xã và được sự đồng ý bằng văn bản, khi thay đổi nơi cư trú, phải thực hiện theo đúng quy định của Luật cư trú.

Chi tiết

Chuyên đề 23: Một số quy định của pháp luật liên quan đến công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư

CHUYÊN ĐỀ 23

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, GIÁO DỤC GIÚP ĐỠ NGƯỜI LẦM LỖI TẠI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

  1. Công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người có án hình sự đang ở tại cộng đồng.

Theo quy định của pháp luật, trong một số trường hợp, người bị Toà án nhân dân xét xử, kết án hình sự, vẫn được chấp hành án tại gia đình, cộng đồng, đó là các trường hợp xử phạt tù, nhưng được hoãn, tạm đình chi chấp hành án; xử phạt tù, nhưng cho hưởng án treo; xử phạt quản chế, cải tạo không giam giữ…

Trong những trường hợp này, Luật thi hành án hình sự quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã, các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội trong công tác tiếp nhận, tổ chức giám sát, giáo dục; phân công người trực tiếp giám sát giáo dục, tăng cường biện pháp giáo dục nhằm phòng ngừa người chấp hành án tại xã, phường, thị trấn hành vi vi phạm pháp luật. UBND, Công an cấp xã, các ban ngành đoàn thể, người được giao trực tiếp theo dõi giám sát phối hợp với gia đình người chấp hành án để giáo dục người chấp hành án nhận thức được hành vi phạm tội của mình từ đó thực hiện đúng nghĩa vụ chấp hành án theo quy định của Pháp luật.

 Luật thi hành án hình sự quy định trách nhiệm của người chấp hành án là chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Phải có mặt theo yêu cầu của UBND cấp xã, đi khỏi nơi cư trú từ 1 ngày trở lên phải khai báo tạm vắng; phải có bản tự nhận xét việc chấp hành án theo quy định…

Người chấp hành án hình sự tại xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ từng mức độ phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tổng hợp với hình phạt của bản án cho hưởng án treo; Vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án hoặc vi phạm pháp luật chưa đến mức xử lý hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT.

Người chấp hành án hình sự tại xã, phường, thị trấn có nhiều tiến bộ, lập công… và chấp hành được 1/2 thời hạn thử thách của án treo, cấm cư trú, quản chế 13/ thời hạn án phạt cải tạo không giam giữ thì được xem xét ngắn thời gian thử thách của án treo, giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại theo quy định của Luật thi hành án và Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP; Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC; số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC; hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo, giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại đối với người chấp hành án….

Bên cạnh đó Luật thi hành án hình sự cũng quy định: Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án; thông báo kết quả chấp hành án với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; Bồi thường thiệt hại và thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác do người chấp hành án là người chưa thành niên gây ra theo bản án, quyết định của Tòa án; Phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục.

  1. Công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ đối tượng tái hoà nhập cộng đồng.

Tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù với việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ những người được ra tù về vật chất và tinh thần để họ có thể hòa nhập vào đời sống cộng đồng, có cuộc sống ổn định, không tái phạm tội, vi phạm pháp luật là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thể hiện bản chất nhân đạo, truyền thống bao dung, nhân ái của dân tộc Việt Nam, đồng thời góp phần quan trọng, tích cực trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Ngày 16/9/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 80/2011/NĐ-CP. Nghị định quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù là cơ sở pháp lí quan trọng để các ngành, các cấp triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và huy động được sự tham gia của các lực lượng xã hội; phân định rõ trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các Bộ, ngành, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện công tác này. Nghị định 80/CP của Chính phủ quy định quyền, nghĩa vụ của người chấp hành xong án phạt tù như được đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định của luật cư trú, đựơc quyền yêu cầu TA có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận xoá án tích khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi có yêu cầu…

Nghị định 80/NĐ-CP của chính phủ quy định cụ thể các biện pháp đảm bảo tái hoà nhậph cộng đồng; phân định rõ trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các Bộ, ngành, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành xong án phạt tù tái hoà nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật; Nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành xong án phạt tù.

Chi tiết

Chuyên đề 24: Các mô hình vận động nhân dân tham gia bảo vệ ANTT tại địa bàn cơ sở

CHUYÊN ĐỀ 24

CÁC MÔ HÌNH VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN THAM GIA BẢO VỆ ANTT TẠI ĐỊA BÀN CƠ SỞ

Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Sơn La đã xây dựng được nhiều loại mô hình tổ chức huy động quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Nhiều mô hình có cách làm hay, sáng tạo và hiệu quả, huy động được các tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ ANTT, từng bước xây dựng và củng cố thế trận An ninh nhân dân vững chắc trên địa bàn tỉnh.

  1. Các mô hình tự quản về ANTT hoạt động có hiệu quả

1.1. Nhóm liên gia tự quản về ANTT: Hiện có trên 17.500 nhóm được thành lập từ năm 2010, theo Chỉ thị số 46-CT/TU ngày 26/02/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với việc xây dựng và phát huy hiệu quả của mô hình “Nhóm Liên gia tự quản” về an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh. Về  hiệu quả hoạt động có > 52% phát huy tốt.

1.2.Tổ an ninh nhân dân: Hiện có trên 3.000 Tổ ANND; số lượng người tham gia: từ 5 đến 7 thành viên/1 tổ, được củng cố, kiện toàn và hoạt động theo Hướng dẫn số 72/HD-PX28 ngày 02/7/2007 và Công văn số 160/CAT-PV11 ngày 03/5/2007 của Công an tỉnh về việc củng cố, kiện toàn và duy trì hoạt động của Tổ An ninh nhân dân; mô hình này được hình thành ở hầu hết các bản, tiểu khu thuộc các xã, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh, hoạt động tương đối hiệu quả (trên 70%).

1.3. Tổ hòa giải: Hiện có: gần 3000 tổ, số lượng người tham gia gồm 5 thành viên/1 tổ. Mô hình này được củng cố, kiện toàn và tiếp tục hoạt động theo Pháp lệnh số 09/1998-PL-UBTVQH ngày 25/12/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở; do UBND cấp xã ra quyết định, được hình thành ở hầu hết các bản, tiểu khu tổ dân phố trên địa bàn toàn tỉnh. Chất lượng hoạt động tương đối hiệu quả (gần 70%).

1.4. Tổ (Đội) phòng cháy, chữa cháy: Hiện có: gần 6000 Tổ, Đội. Số lượng người tham gia: từ 5 đến 7 thành viên/1 tổ, đội. Mô hình này được thành lập theo Luật phòng cháy, chữa cháy số 27/2001/QH10 ngày 29/6/2001 của Quốc hội, Công an các huyện đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCCC đến cấp xã, phường, thị trấn; năm 2001, các tổ, đội PCCC được hình thành, củng cố, kiện toàn và tiếp tục hoạt động ở hầu hết các bản, tiểu khu, tổ dân phố; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học trên địa bàn toàn tỉnh.  Chất lượng  hoạt động tương đối hiệu quả (trên 60%).

1.5. Cụm liên kết về an ninh trật tự ở địa bàn giáp ranh

Với 140 cụm liên kết về AN -TT ở địa bàn giáp ranh, giữa xã với xã, với cơ quan doanh nghiệp, trường học đóng trên địa bàn trong đó có: 5 cụm liên huyện, 24 cụm liên xã; 11 cụm liên cụm dân cư với cơ quan doanh nghiệp, 29 cụm liên tiểu khu, 3 Cụm liên xã- thị trấn và 69 Cụm liên bản, trên 50% hiệu quả.

Nội dung hoạt động chủ yếu của mô hình cụm liên kết về an ninh trật tự gồm: Trao đổi thông tin về tình hình, phương thức, thủ đoạn hoạt động tội phạm và tệ nạn xã hội ở từng địa bàn, phối hợp tuần tra thực hiện các công tác phòng ngừa và đấu tranh cũng như giải quyết kịp thời các vụ, việc về an ninh trật tự liên địa bàn; phát hiện, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; cảm hoá giáo dục người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư…

1.6. Đội Thanh niên xung kích bảo vệ bản: Là mô hình đang được triển khai thí điểm thành lập từ năm 2013 tại xã Huổi Một, Sông Mã có 24 đội; bản Mường và, xã Mường và, Sốp cộp do đoàn viên thanh niên làm nòng cốt, mỗi đội có từ 5-7 thành viên. Các mô hình này bước đầu phát huy hiệu quả nhất định.

Ngoài các loại mô hình trên, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường trong tỉnh còn xây dựng được một số loại mô hình bảo vệ ANTT khác như:  Đoàn thanh niên với các mô hình: Câu lạc bộ thắp sáng niềm tin, Câu lạc bộ giáo dục đồng đẳng, Bến đò ngang an toàn, Cổng trường an toàn; Đội giao thông xanh. Hội Phụ nữ với các mô hình: Câu lạc bộ phòng chống ma túy- HIV/AIDS; Địa chỉ tin cậy; Hộ Nông dân với các mô hình:  Điểm sáng an ninh nông thôn, An ninh biên giới; Hòm thư tố giác tội phạm; Câu lạc bộ Nông dân với pháp luật… Mặt trận tổ quốc với mô hình: Vận động toàn dân tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy. Trường Đại hoc Tây bắc với các mô hình Đội cờ đỏ, Ban tự quản; Trường Cao đẳng y tế với mô hình: Đội thanh niên xung kích; Thanh niên tình nguyện; sinh viên kiểu mẫu…

  1. Nội dung, hình thức hoạt động của các mô hình

Các loại mô hình bảo vệ ANTT ở cơ sở trên địa bàn tỉnh được thành lập và tổ chức hoạt động theo các quy định, chỉ đạo của Nhà nước, của Ngành Công an hoặc sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn thể hoặc thủ trưởng cơ quan đơn vị từ cơ sở, có các đặc điểm chung như sau:

 Về nguyên tắc hoạt động: Các loại mô hình bảo vệ ANTT phải tuân thủ các  quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lấy giáo dục thuyết phục làm phương pháp hoạt động chủ yếu.

 Về cơ chế hoạt động: Các mô hình bảo vệ ANTT được tổ chức và hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, trường học, tổ chức đoàn thể. Đồng thời chịu sự quản lý, chỉ đạo hướng dẫn về nghiệp vụ của lực lượng CAND; phát huy quyền làm chủ xã hội trên lĩnh vực bảo vệ ANTT của mọi người dân, mọi cán bộ, công nhân viên trong tổ chức và duy trì mọi hoạt động của từng loại mô hình.

 Về hình thức hoạt động: Hình thức hoạt động của các loại mô hình đều có hình thức chung là tự nguyện, tự giác; “tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải” đế góp phần bảo vệ ANTT từ cơ sở.

 Về nội dung hoạt động: từng cá nhân, hộ gia đình, hộ tập thể, hoặc từng nhóm người, nhóm hộ, cụm dân cư; nhóm cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học… có mối quan hệ liên kết với nhau để quản lý, giúp đỡ lẫn nhau và tổ chức các hoạt động bảo vệ tuyên truyền, đôn đốc và giải quyết những nhiệm vụ có liên quan đến ANTT từ cơ sở, tiêu biểu gồm các nội dung:

+ Tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định, nội quy, hương ước, quy ước ở địa phương, cơ quan, đơn vị, nơi cư trú.

+ Tham gia các mặt công tác quản lý Nhà nước về TTXH. Vận động nhân dân tích cực, chủ động tham gia phòng chống tội phạm; phòng chống ma túy, phòng chống tệ nạn xã hội ngay tại địa bàn dân cư.

+ Tham gia cảm hóa giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng và hòa giải  giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn ngay từ cơ sở.

+ Xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó với nhau để tổ chức các hoạt động, giải quyết những nhiệm vụ có liên quan đến ANTT từ cơ sở.

2.1. Nhóm liên gia tự quản về ANTT

 – Cơ chế hoạt động: Chịu sự chỉ đạo, điều hành của Trưởng bản, Tiểu khu trưởng và Công an viên, lực lượng Công an xã và huyện hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc về nghiệp vụ, có chức năng phát huy tính tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải và phối hợp thực hiện công tác ANTT của bản, tiểu khu.

– Hoạt động tự giác, có hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước; (sổ sách, bút, đèn pin, áo mưa) có một số ít nhóm được hỗ trợ thêm một phần kinh phí từ nguồn đóng góp tự nguyện của các hộ gia đình… trong bản, tiểu khu.

2.2. Tổ an ninh nhân dân

– Cơ chế hoạt động: Chịu sự chỉ đạo, điều hành của Trưởng bản, Tiểu khu trưởng và Công an viên, có chức năng phối hợp thực hiện công tác ANTT của bản, tiểu khu.

– Hoạt động tự giác, có một số ít tổ ANND được hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồn đóng góp tự nguyện của các hộ gia đình… trong bản, tiểu khu.

2.3. Tổ hòa giải

– Cơ chế hoạt động: Chịu sự chỉ đạo, điều hành của Trưởng bản, Tiểu khu trưởng hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố; do phòng tư pháp cấp huyện, thành phố hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở; có chức năng phối hợp thực hiện công tác hòa giải các mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân tại các bản, tiểu khu và tổ dân phố.

– Hoạt động tự giác.

2.4. Tổ (Đội) phòng cháy, chữa cháy

– Cơ chế hoạt động: Chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bí thư, Trưởng bản, Tiểu khu trưởng, được Công an huyện, thành phố hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc nghiệp vụ công tác PCCC; có chức năng thực hiện công tác PCCC của bản, tiểu khu, tổ dân phố.

– Hoạt động tự giác, có một số ít tổ ANND được hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồn đóng góp tự nguyện của các hộ gia đình… trong bản, tiểu khu.

2.5. Cụm liên kết về an ninh trật tự ở địa bàn giáp ranh

Nội dung hoạt động chủ yếu của mô hình cụm liên kết về an ninh trật tự gồm: Trao đổi thông tin về tình hình, phương thức, thủ đoạn hoạt động tội phạm và tệ nạn xã hội ở từng địa bàn, phối hợp tuần tra thực hiện các công tác phòng ngừa và đấu tranh cũng như giải quyết kịp thời các vụ, việc về an ninh trật tự liên địa bàn; phát hiện, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; cảm hoá giáo dục người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư.

Chi tiết